mở đầu cho một cuộc “cách mạng” mới của người dân tộc thiểu số trong văn học cả về phương diện nghệ thuật sáng tác cũng như phương diện nội dung , sử dụng văn xuôi thể hiện hì nh ảnh những con người mới dám phá bỏ những tập tục cũ nghèo nàn , lạc hậu, vươn lên làm chủ cuộc sống. Tiếp đó, vào khoảng thập niên 60 (của thế kỉ trước), các tác phẩm văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số đã xuất hiện khá nhiều và bước đầu tạo được dấu ấn riêng. Về tiểu thuyết, Muối lên rừng của Nông Minh Châu (1964) đã mở ra một thời kỳ mới cho tiểu thuyết dân tộc miền núi phát triển. Một số tác phẩm được dư luận chú ý như : Bên bờ suối Tiên của Triều Ân, Chuyện anh Thượng của Nông Minh Châu, Đêm giao thừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình, Mương Nà Pàng của Hoàng Hạc… Mặc dù những sáng tác này còn có những hạn chế về nghệ thuật , nhưng khi những tác phẩm trên ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 đời, thì lần đầu tiên hình ảnh con người và cuộc sống miền núi đã được phản ánh một cách chân thật và sinh động bằng chính những cây bút văn xuôi các dân tộc trong nền văn học nước nhà.
Văn xuôi các dân tộc thiểu số thực sự phát triển mạnh vào cuối những năm 70 và 80. Sau giai đoạn chống Mỹ cứu nước, toàn dân ta lại tiếp tục bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải tạo đất nước. Hoà mình vào không khí chung ấy của dân tộc, các tác giả dân tộc thiểu số đã không ngừng cố gắng nhằm đạt đến sự hoàn thiện trong sáng tác. Các tác phẩm được in ra với số lượng khá lớn.
Truyện ngắn và ký có: Mây tan của nhiều tác giả (Việt Bắc, 1973), Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại (Việt Bắc, 1973), Tiếng chim Gô của Nông Minh Châu (Văn hoá, 1979), Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (Văn hoá, 1979), Tiếng khèn A Pá của Triều Ân (Văn hóa,1980), Những bông Ban tím của Sa Phong Ba (Lao động, 1982), Chiếc vòng bạc của Lò Ngân Sủn (Văn hoá dân tộc, 1987)…và chỉ sau đó một thời gian ngắn, liên tiếp xuất hiện các tiểu thuyết như Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985) của Vi Hồng… Như vậy, trong giai đoạn phát triển về tầm vóc này, hệ thống thể loại của văn xuôi miền núi đã thực sự được hoàn thiện. Thêm vào đó, số lượng các tác phẩm ngày một phong phú và đa dạng hơn. Ngoài sự phát triển về tầm vóc, số lượng, văn xuôi giai đoạn này còn ghi được những dấu ấn đặc sắc về nghệ thuật. Bằng những hình tượng, chi tiết, ngôn ngữ cụ thể, sinh động, các tác giả người dân tộc thiểu số đã khắc họa tương đối rõ nét những hình tượng nhân vật và chú ý khai thác đời sống nội tâm nhân vật (như các nhà văn: Nông Viết Toại, Vi Hồng, Hoàng Hạc.
Trong nhiều tác phẩm, người đọc bắt gặp những cuộc đấu tranh nội tâm trong mỗi nhân vật với cả những suy nghĩ tích cực và lạc hậu. So với giai đoạn trước đó, văn xuôi thời kỳ này đã dần đạt đến độ “chín” về cả chất lượng nghệ thuật lẫn số lượng tác phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Văn xuôi các dân tộc thiểu số được phát triển và khẳng định vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90 - thời kì chuyển từ cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường. Cơ cấu kinh tế của miền núi cũng có những chuyển biến mạnh mẽ, các nhà văn dân tộc đã có cái nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về thực tế xã hội của quê hương, đất nước của mình.
Có thể nói, khoảng 20 năm cuối của thế kỉ XX là giai đoạn mang tính "thời vụ" của tiểu thuyết trong sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số. Vi Hồng cho ra đời 15 tiểu thuyết trong bảy năm (từ 1990 - 1997), Ma Trường Nguyên - 4 tiểu thuyết, Hoàng Thị Cành - 2 cuốn, Cao Duy Sơn - 2 cuốn, Vương Trung - 1 cuốn. Về ký, có tác phẩm Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành, bút ký có Cao nguyên trắng của Mã A Lềnh, Gió Mù Căng của Hà Lâm Kỳ… Về đề tài, chủ đề sáng tác - thời kì này đã được mở rộng và phong phú hơn. Vi Hồng với Người trong ống, Gã ngược đời (1990) đã đề cập đến vai trò của người trí thức dân tộc trong các nhà trường đại học; Hoàng Thị Cành với Số phận đàn bà (1990) lại phản ánh số phận không may mắn của những người phụ nữ miền núi thời kì hiện đại,.
Đặc biệt, tiểu thuyết Người lang thang (1992) của Cao Duy Sơn đã đạt đến độ “chín” khi tạo cho nhân vật của mình những cá tính riêng biệt đặc sắc, trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu trong cuộc sống của người miền núi. Có thể nói, những thành tựu mà văn xuôi các dân tộc thiểu số giai đoạn này đã đạt được thật xứng đáng, ghi nhận vào hàng ngũ những thành tựu chung của văn học Việt Nam hiện đại. Về đặc điểm khắc hoạ, xây dựng nhân vật trong các tác phẩm văn học cũng như các nhà văn người Kinh, các tác giả người dân tộc thiểu số thường xây dựng chân dung nhân vật của mình ở hai phương diện: ngoại hình và tính cách nhân vật. Các nhân vật chính diện của họ thường có ngoại hình đẹp đẽ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 và nhân cách cao quý, còn các nhân vật phản diện thì ngược lại.
Về phương diện nội dung, các nhân vật được miêu tả nội tâm có những suy nghĩ tâm trạng riêng, phong phú, phức tạp và được đặt trong các mối quan hệ: xã hội - gia đình; quan hệ địch - ta; quan hệ giữa vợ - chồng, anh – em - bè bạn. Tuy nhiên, những quan hệ đó thường xảy ra ở một không gian nhỏ : một làng, một xã hoặc một huyện của vùng miền núi. Bên cạnh đó, các nhà văn thiểu số miền núi phía Bắc còn thể hiện một sự hiểu biết sâu sắc về dân tộc mình, nên khi xây dựng nhân vật, tác giả thường lấy nguyên mẫu ngoài đời làm đối tượng phản ánh. Ví dụ: Nhân vật Đàng trong Vãi Đàng của Vi Hồng dựa trên một nguyên mẫu thật ngoài đời.
Xây dựng nhân vật này, Vi Hồng lần đầu tiên đưa vào tiểu thuyết của mình hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số. Ngoài ra, một số nhà văn dân tộc thiểu số khác cũng rất chú ý đến cách khắc hoạ tính cách nhân vật từ nhiều góc độ, bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau: từ độc thoại nội tâm tới miêu tả, trần thuật từ lời nói đối thoại đến lời nói độc thoại của nhân vật. Khi miêu tả ngoại hình nhân vật các tác giả này cũng thường tập trung miêu tả trực tiếp với những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc như: so sánh, tượng trưng, ước lệ. Trong các tác phẩm của họ, những hình ảnh về thiên nhiên, con người, cuộc sống vùng dân tộc miền núi thường được miêu tả với vẻ đẹp lý tưởng hóa.
Thông qua hệ thống ngôn ngữ văn học thường được cường điệu và phóng đại, nhiều tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số đã tạo được những dấu ấn riêng. Tuy nhiên, nhiều khi các tác giả này lại lạm dụng cách nói này nên khiến tác phẩm có phần nặng nề và thiếu lôi cuốn. Nói tóm lại, với những thành tựu đạt được trong giai đoạn từ 1960 đến nay, văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã có những đóng góp tích cực vào nền văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Bên cạnh nội dung phản ánh cuộc sống, thì các tác giả dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 tộc miền núi còn phản ánh cuộc sống kháng chiến và xây dựng đất nước của nhân dân các dân tộc thiểu số, các tác phẩm văn học này còn là bức tranh sinh động về thiên nhiên và con người miền núi trong cuộc sống sinh họat đời thường với những phong tục, tập quán đậm đà bản sắc dân tộc, cùng những mối quan hệ gắn bó keo sơn giữa những con người miền núi với quê hương , làng bản của mình.
Văn xuôi các dân tộc miền núi (trong đó có tiểu thuyết ) trong quá trình vận động và phát triển của mình , với những thành tựu đã được ghi nhận, xứng đáng trở thành một bộ phận quan trọng của nền văn học Việt Nam giầu bản sắc. Nhà văn dân tộc Tày tiêu biểu - Vi Hồng 1. Vài nét về con người và sự nghiệp sáng tác 1. Về con người Vi Hồng Vi Hồng tên khai sinh là Vi Văn Hồng, sinh ngày 13/7/1936.
Quê ở bản Phai Thin, xã Đức Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Đây là một trong những chiếc nôi bảo tồn, lưu giữ văn hóa Tày - Việt Bắc. Vì vậy, văn hóa dân gian đã ngấm sâu vào con người Vi Hồng từ khi nhỏ tuổi và sau này trở thành nguồn mạch vô tận trong đời sống cũng như cuộc đời, sự nghiệp giảng dạy và sáng tác của ông. Lên bảy tuổi, Vi Hồng bắt đầu học chữ Hán và chữ Quốc ngữ với các bác trong gia đình.
Khi lên 10, Vi Hồng đã học được các điệu lượn, điệu then với bà. Với vốn chữ ít ỏi - ông đã ghi lại một cách chính xác những bài ca dân gian Tày như một nhà sưu tầm văn hóa dân gian thực thụ. Mười ba tuổi, Vi Hồng tập làm thơ, chủ yếu là thể Phong slư (thơ tỏ tình trao duyên của người Tày). Tâm hồn văn chương của ông được nảy nở từ thời kỳ này.
Mười bốn tuổi - Vi Hồng thi đỗ và học lớp 3 trường tiểu học ở Cao Bằng; năm 1955, Vi Hồng là 1 trong 9 học sinh ở Cao Bằng được xuống Thái Nguyên theo học trường cấp III Lương Ngọc Quyến. Năm 1960, ông tốt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 18 nghiệp khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ra trường, sau một thời gian công tác tại Hà Giang, ông trở về trường Đại học Sư phạm Hà Nội giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại khoa Ngữ văn.