Phần mở đầu, gồm các nội dung về tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu; mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu của đề tài; đối tượng, phạm vi và nội dung của nghiên cứu. Chương 2: Giới thiệu tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu gồm: các khái niệm có liên quan của đề tài, cơ sở thực tiễn về xây dựng NTM; những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu gồm: quy trình nghiên cứu; phương pháp thu thập số liệu, khung phân tích và phương pháp phân tích của đề tài. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu gồm: tổng quan về địa bàn nghiên cứu; thực trạng xây dựng NTM trên địa bàn nghiên cứu; kết quả xây dựng NTM và tác động của xây dựng NTM đến cuộc sống người dân trên địa bàn nghiên cứu, các nội dung về thông tin mẫu nghiên cứu, kết quả khảo sát.
Chương 5: Các giải pháp thực hiện. Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách gồm: kết luận chung kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách, hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU 2.1- CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng do Chính phủ Việt Nam xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ngày 5 tháng 8 năm 2008). Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt trong Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 4 tháng 6 năm 2010, đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM và đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.1- Khái niệm nông thôn Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn.
Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị. Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp cho việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). Theo Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ, ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn. Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất theo quy định tại Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04-10-2013 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”.
Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiêp chiếm tỷ trọng lớn. Sự khác biệt về công tác 7 quản lý giữa nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp quản lý là xã; còn thành thị với cấp quản lý là phường, thị trấn.2- Khái niệm Nông thôn mới Theo Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2009) cho rằng Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước. Hồ Xuân Hùng, (2010). NTM trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn.
NTM vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; giá trị văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. Tóm lại: NTM là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ NTM. NTM có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.3- Xây dựng Nông thôn mới 2.1- Phát triển nông thôn Để phát triển bền vững nông thôn, phải đồng thời các giải pháp về kinh tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế cần tập trung đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, kiến trúc nông thôn, cung cấp thông tin, áp dụng công nghệ để tăng cao 8 sức cạnh tranh của sản phẩm nông thôn. Về xã hội, phải phát triển tổ chức xã hội theo hướng tăng cao vai trò và sự tham gia của cư dân nông thôn.
Cần chấp nhận nền kinh tế nông thôn có hộ nông dân, trang trại và các doanh nghiệp phát triển ở các mức độ khác nhau, thậm chí cả nông dân không đất. Tôn trọng và tạo điều kiện cho thị trường sức lao động, thị trường đất đai và thị trường khoa học công nghệ phát triển. Về môi trường, cần bảo tồn tài nguyên đất, nước và sinh vật, thực hiện quản lý tốt môi trường nông thôn (Đỗ Kim Chung, 2012). Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc, 2005).2- Xây dựng Nông thôn mới Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, xây dựng NTM là cách gọi chung cho quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa nông thôn, dưới bối cảnh “thành thị và nông thôn cùng phát triển trong giai đoạn mới với “công nghiệp bổ trợ nông nghiệp, thành thị dẫn dắt nông thôn” (Đặng Kim Sơn, 2008). Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng ấp, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.4- Lợi ích Lợi ích là một trong những động lực quan trọng trực tiếp thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc và xã hội. 9 Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định. Mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng.5- Các nhân tố tham gia xây dựng NTM Nhà nước Xây dựng NTM Người dân Doanh nghiệp Mặt trận các đoàn thể Chú thích: Quan hệ tham gia; ----------- Quan hệ hỗ trợ Sơ đồ 2. Mối quan hệ của các nhân tố tham gia xây dựng NTM Nguồn: Tổng hợp của tác giả Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM được thực hiện theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện.
Các hoạt động cụ thể do chính người dân ở nông thôn các xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện. Các nhân tố tham gia xây dựng NTM bao gồm: Người dân, nhà nước, doanh nghiệp và Mặt trận, các đoàn thể (được nêu trong sơ đồ 2.1- Vai trò của người dân Theo Đào Duy Ngọc (2014) trích Pierre André (2012) “Sự tham gia của người dân là một quá trình mà trong đó những người dân thường tham gia trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc và hành động một mình hoặc trong một nhóm với mục tiêu ảnh hưởng đến quyết định sẽ tác động đến cộng đồng của họ”. Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ thể chế và nó có thể được tổ chức bởi thành viên của các tổ chức xã hội hay người ra quyết định. Mức độ tham gia của người dân vào các công việc phát triển cộng đồng tùy thuộc vào trình độ 10 nhận thức, văn hóa, điều kiện địa lý khác nhau, thể hiện ở các cấp độ khác nhau, như một tiến trình liên tục và chia thành 6 cấp độ.1- Các mức độ tham gia của người dân Nguồn: Trích Đào Duy Ngọc (2014) trích từ André, P,P Martin và G.Larunafankpotin (2012) (1) Tham gia thụ động: trong các hoạt động người dân thụ động tham gia, yêu cầu gì thì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định.