Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân nông thôn. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định vị trí chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn vừa qua, nhiều chương trình, chính sách như chương trình giống, chương trình khuyến nông, Chương trình 135 hay Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP đã được triển khai. Tuy nhiên, việc thực thi tại nhiều địa phương còn bộc lộ sự chậm trễ do vướng mắc cơ chế chính sách, năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế và đặc biệt là chưa phát huy tối đa vai trò chủ thể, sự tham gia của người dân cùng các tổ chức xã hội vào quá trình quy hoạch, thực hiện và giám sát.

Bộc Bố là một xã miền núi nằm ở khu vực trung tâm của huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, gồm có 15 xóm bản với 867 hộ và 3.985 nhân khẩu (năm 2013), là nơi sinh sống của 6 dân tộc anh em gồm Tày, Nùng, Kinh, Dao, Sán Chỉ và Mông. Mặc dù có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu kinh tế với các xã lân cận và nguồn nhân lực dồi dào, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại xã vẫn diễn ra chậm chạp, phương thức sản xuất chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, tự cung tự cấp chưa hình thành chuỗi sản xuất hàng hóa lớn. Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 25,83% (224 hộ), cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội dù đã được đầu tư xây dựng nhưng chưa đồng bộ. Để thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới, việc huy động nội lực từ cộng đồng thông qua việc hiến đất làm đường, đóng góp ngày công lao động, tham gia bàn bạc và giám sát các công trình là yếu tố mang tính quyết định. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn tại địa phương.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới.
    • Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
    • Đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội ở địa phương trong các hoạt động xây dựng nông thôn mới.
    • Phân tích những khó khăn và trở ngại ảnh hưởng đến mức độ tham gia của các chủ thể.
    • Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân và các đoàn thể trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Bộc Bố.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2011–2013; điều tra khảo sát thực địa sơ cấp được tiến hành từ tháng 01/2014 đến ngày 27/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Khóa luận vận dụng hệ thống các khái niệm khoa học và văn bản chỉ đạo của Nhà nước về nông thôn mới và sự tham gia của cộng đồng:

  • Khái niệm nông dân và tổ chức xã hội: Nông dân được định nghĩa là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp và lấy tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tổ chức xã hội là một thành tố của cơ cấu xã hội, đại diện cho hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân tự nguyện nhằm đạt được các mục tiêu và lợi ích chung (điển hình tại địa bàn là Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên).
  • Khái niệm phát triển nông thôn: Trích dẫn định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1975), xác định phát triển nông thôn là chiến lược cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội cho nhóm người nghèo ở nông thôn, hướng tới hiện đại hóa nhưng vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
  • Văn bản pháp lý nền tảng:
    • Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ("vấn đề tam nông").
    • Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa - xã hội - môi trường; Hệ thống chính trị.
    • Văn bản sửa đổi, bổ sung 5 tiêu chí nông thôn mới (theo số hiệu 342) điều chỉnh các nội dung về chợ nông thôn (tiêu chí 7), thu nhập bình quân đầu người (tiêu chí 10), cơ cấu lao động có việc làm thường xuyên từ 90% trở lên (tiêu chí 12), phổ cập giáo dục trung học cơ sở (tiêu chí 14) và tỷ lệ bảo hiểm y tế từ 70% trở lên (tiêu chí 15).
  • Khung lý luận về sự tham gia của người dân: Được cụ thể hóa qua phương châm "Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi". Khóa luận phân định các cấp độ tham gia từ không tham gia, tham gia ít đến tham gia thực sự của người dân vào các khâu lập kế hoạch, hiến đất, đóng góp ngày công, giám sát và duy tu bảo dưỡng công trình sau đầu tư.
  • Tổng quan thực tiễn: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông thôn tại Đài Loan (chính sách lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp), Trung Quốc (chính sách khoán hộ từ năm 1978 và "Tài liệu số 1" năm 2006) và phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc (khởi xướng từ năm 1970 đề cao tính tự lực, dân chủ cơ sở). Đồng thời, tổng quan kết quả thí điểm xây dựng nông thôn mới tại 11 xã điểm toàn quốc và bài học kinh nghiệm từ tỉnh Thái Bình và tỉnh Bắc Giang.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chọn mẫu điều tra: Khóa luận áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn:
    • Mẫu hộ gia đình: Trong tổng số 15 thôn của xã Bộc Bố, chọn ngẫu nhiên 3 thôn; tại mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 20 hộ gia đình để tiến hành phỏng vấn trực tiếp, tổng dung lượng mẫu là $n = 60$ hộ.
    • Mẫu tổ chức xã hội: Lựa chọn 3 tổ chức đoàn thể nòng cốt có mối quan hệ gắn bó mật thiết với người dân gồm Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên; chọn ngẫu nhiên 9 đại biểu/tổ chức phân bổ đều tại 3 thôn khảo sát, tổng cộng 27 đại biểu.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê định kỳ, hồ sơ địa chính, số liệu sản xuất nông - lâm nghiệp của UBND xã Bộc Bố và các phòng ban chuyên môn huyện Pác Nặm giai đoạn 2011–2013.
    • Dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát thực địa và các cuộc họp thảo luận nhóm có sự tham gia giữa cán bộ xã, trưởng thôn và người dân.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu được tổng hợp, mã hóa và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả (tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, số bình quân, tốc độ tăng trưởng) thông qua phần mềm Microsoft Office Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về tam nông và Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Nêu rõ mục tiêu chung, 5 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của khóa luận trong việc cung cấp luận cứ cho chính quyền cơ sở huyện Pác Nặm.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nông dân, tổ chức xã hội, nội dung phương châm 7 bước tham gia của cộng đồng và Bộ tiêu chí quốc gia 19 tiêu chí NTM. Phân tích kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nông thôn mới của Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, 11 mô hình thí điểm tại Việt Nam (Thụy Hương, Tân Thịnh, Hải Đường, Gia Phố, Tân Thông Hội...) và các mô hình tại Thái Bình, Bắc Giang.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác lập địa bàn nghiên cứu tại xã Bộc Bố, thời gian thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014. Trình bày chi tiết phương pháp chọn mẫu khảo sát (60 hộ dân và 27 đại diện của 3 tổ chức xã hội tại 3 thôn), phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp/sơ cấp bằng công cụ PRA và quy trình xử lý số liệu bằng thống kê mô tả trên phần mềm Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Phần này tập trung phân tích toàn diện thực trạng địa bàn xã Bộc Bố giai đoạn 2011–2013 và kết quả khảo sát sự tham gia của người dân:

1. Điều kiện tự nhiên và tình hình sử dụng đất

Xã Bộc Bố có tổng diện tích đất tự nhiên là 5.336,53 ha, địa hình đồi núi dốc, nhiệt độ trung bình năm là 21°C (biên độ nhiệt dao động từ 5°C vào mùa đông đến 39°C vào mùa hè).

Danh mục loại đất Năm 2011 (ha) Cơ cấu (%) Năm 2012 (ha) Cơ cấu (%) Năm 2013 (ha) Cơ cấu (%) So sánh 13/12 (%)
I. Đất nông lâm nghiệp 4.441,68 83,23 4.430,01 83,01 4.542,61 85,12 102,54
- Đất sản xuất nông nghiệp 314,70 5,90 311,20 5,83 311,00 5,83 99,94
- Đất lâm nghiệp 4.120,74 77,22 4.112,62 77,06 4.225,42 79,18 102,74
- Đất nuôi trồng thủy sản 6,24 0,12 6,19 0,12 6,19 0,12 100,00
II. Đất phi nông nghiệp 184,88 3,46 196,58 3,68 199,18 3,73 101,32
- Đất ở tại nông thôn 63,25 1,19 62,19 1,17 63,29 1,19 101,77
- Đất chuyên dùng 84,92 1,59 97,68 1,83 99,18 1,86 101,54
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa 0,14 0,00 0,14 0,00 0,14 0,00 100,00
- Đất sông suối, mặt nước 36,57 0,69 36,57 0,69 36,57 0,69 100,00
III. Đất chưa sử dụng 709,97 13,30 709,97 13,30 594,74 11,14 83,77
- Đất bằng chưa sử dụng 32,70 0,61 32,70 0,61 32,70 0,61 100,00
- Đất đồi núi chưa sử dụng 677,27 12,69 677,27 12,69 526,04 9,86 77,67
Tổng diện tích tự nhiên 5.336,53 100,00 5.336,53 100,00 5.336,53 100,00 100,00

2. Tình hình sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp

  • Trồng trọt: Diện tích gieo cấy lúa năm 2013 đạt 232,90 ha, năng suất 42,61 tạ/ha, sản lượng đạt 9.925,84 tạ. Cây ngô đạt diện tích 168,90 ha với sản lượng 5.912,90 tạ. Cây đậu tương và lạc có xu hướng tăng năng suất nhờ tính chịu hạn tốt (đậu tương đạt 16,31 tạ/ha, lạc đạt 13,01 tạ/ha năm 2013).
  • Chăn nuôi: Đàn gia súc phát triển ổn định: đàn trâu tăng từ 638 con (2011) lên 820 con (2013); đàn bò đạt 712 con; đàn dê đạt 197 con; đàn lợn đạt 1.898 con và gia cầm đạt 3.500 con. Năm 2013, dự án 3PAD thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Kạn đã hỗ trợ 25 con lợn nái giống Móng Cái cho 5 nhóm hộ (75 hộ gia đình tại 5 thôn).
  • Lâm nghiệp: Năm 2013 thực hiện trồng rừng mới tập trung đạt 100,53 ha/190 ha kế hoạch (đạt 52,9%).

3. Thực trạng dân số, lao động và cơ sở hạ tầng

  • Dân số và lao động: Năm 2013 toàn xã có 867 hộ với 3.985 nhân khẩu, gồm 679 hộ nông nghiệp (78,32%) và 188 hộ phi nông nghiệp (21,68%). Tổng lực lượng lao động là 2.913 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 65,43% (1.906 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 34,57% (1.007 người). Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 25,83% (224 hộ).
  • Cơ sở hạ tầng giao thông: Toàn xã có 62 km đường giao thông, bao gồm 8 km tỉnh lộ ĐT 258 và 54 km đường trục xã, liên thôn; có 4 cầu và 27 cống. Đường xã nhựa hóa/bê tông hóa đạt chuẩn là 21 km (đạt 38,8%).
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 So sánh 12/11 (%) So sánh 13/12 (%) Tốc độ PTBQ (%)
Tổng số nhân khẩu Người 3.619 3.767 3.985 104,09 105,87 104,98
- Nhân khẩu nông nghiệp Người 2.459 2.603 2.887 105,86 110,91 108,38
- Nhân khẩu phi nông nghiệp Người 1.160 1.164 1.098 100,34 94,33 97,30
Tổng số hộ Hộ 815 842 867 103,31 102,97 103,14
- Hộ nông nghiệp Hộ 632 657 679 103,96 103,35 103,65
- Hộ phi nông nghiệp Hộ 183 185 188 101,09 101,62 101,36
Tổng số lao động Người 2.145 2.872 2.913 133,89 101,43 117,66
- Lao động nông nghiệp Người 1.608 1.794 1.906 111,57 106,24 108,91
- Lao động phi nông nghiệp Người 537 1.078 1.007 200,75 93,41 147,07
Nhân khẩu bình quân/hộ Người 4,44 4,47 4,60 100,76 102,82 101,79
Lao động bình quân/hộ Người 2,63 3,41 3,36 129,60 98,50 114,05

4. Đánh giá sự tham gia của người dân và tổ chức xã hội

Kết quả điều tra phản ánh các khía cạnh: kênh tiếp cận thông tin, mức độ hiểu biết về 19 tiêu chí NTM, tính tự nguyện tham gia, vai trò của Ban chỉ đạo/Ban quản lý xã và Ban phát triển thôn, mức độ tham gia thảo luận chiến lược, lập kế hoạch, tham gia tập huấn ứng dụng kỹ thuật và tham gia đóng góp ngày công xây dựng công trình giao thông, thủy lợi.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu thực địa, khẳng định tầm quan trọng của nguồn lực cộng đồng và đề xuất kiến nghị cụ thể đối với UBND tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Pác Nặm và cấp ủy, chính quyền xã Bộc Bố.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Thực trạng kinh tế - xã hội địa bàn:
    • Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối (79,18% diện tích năm 2013), đất sản xuất nông nghiệp hạn hẹp (5,83%), quỹ đất chưa sử dụng còn lớn (11,14% tương đương 594,74 ha).
    • Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực khi tốc độ tăng bình quân của lao động phi nông nghiệp đạt 147,07%/năm giai đoạn 2011–2013; tuy nhiên lao động nông nghiệp vẫn giữ tỷ trọng chi phối (65,43%). Tỷ lệ hộ nghèo còn cao (25,83%).
    • Hạ tầng giao thông mới đạt 38,8% tỷ lệ đường xã được cứng hóa đạt chuẩn; hệ thống thủy lợi chủ yếu là mương đất, chưa đáp ứng hoàn toàn nhu cầu tưới tiêu khiến năng suất lúa có sự sụt giảm trong năm 2012–2013.
  2. Thực trạng tham gia của người dân và đoàn thể:
    • Người dân và các tổ chức xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên) đã bước đầu tiếp cận các chủ trương NTM qua các kênh họp thôn, truyền thanh và cán bộ khuyến nông.
    • Hoạt động tham gia tập trung chủ yếu vào khâu trực tiếp lao động xây dựng công trình và tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao cây con giống (như dự án chăn nuôi lợn nái Móng Cái 3PAD); các khâu tham gia thảo luận quy hoạch, lập kế hoạch và giám sát nghiệm thu công trình còn hạn chế do trình độ nhận thức chưa đồng đều.

Giải pháp tác giả đề xuất

  • Đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ: Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch có sự tham gia, nâng cao năng lực quản lý dự án cho cán bộ xã và Ban phát triển thôn.
  • Nâng cao hiểu biết cho người dân: Đẩy mạnh tuyên truyền thông qua các buổi họp thôn, sinh hoạt đoàn thể để người dân hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm và xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước.
  • Hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa: Đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế; tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; mở rộng các mô hình liên kết và tín dụng ưu đãi.
  • Phát triển ngành nghề và kết cấu hạ tầng: Tư vấn quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng; phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống nhằm tạo việc làm phi nông nghiệp.
  • Bảo vệ môi trường nông thôn: Tăng cường quản lý nguồn nước cấp, hệ thống thu gom rác thải sinh hoạt và xử lý chất thải chuồng trại chăn nuôi.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực địa chi tiết về điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế - xã hội và đánh giá trực tiếp mức độ tham gia của cộng đồng dân cư tại một xã miền núi thuộc vùng đặc biệt khó khăn (huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn), làm cơ sở tham khảo cho việc xây dựng kế hoạch nông thôn mới tại các xã có điều kiện tương đồng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa sơ cấp chỉ tập trung vào 3 trên tổng số 15 thôn của xã Bộc Bố với quy mô 60 hộ gia đình và 27 đại diện tổ chức xã hội; thời gian thực hiện nghiên cứu ngắn (từ tháng 01/2014 đến 27/04/2014) nên chưa bao quát hết biến động qua các mùa vụ và toàn bộ các tiêu chí chuyên sâu trong bộ tiêu chí NTM.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ 15 thôn bản của xã; tiến hành đánh giá định lượng sâu hơn về hiệu quả kinh tế của từng mô hình sản xuất nông nghiệp cụ thể và phân tích chuyên sâu về sự tham gia của đồng bào các dân tộc thiểu số ít người (Dao, Sán Chỉ, Mông) tại các thôn vùng cao.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý xã hội; cán bộ khuyến nông, cán bộ quản lý thuộc Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới cấp xã, cấp huyện tại các địa phương miền núi phía Bắc.
  • Phần giá trị nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết về hiện trạng sử dụng đất (Bảng 4.1), cơ cấu sản xuất cây trồng, chăn nuôi (Bảng 4.2, 4.3), biến động nhân khẩu - lao động (Bảng 4.4) và quy trình áp dụng công cụ PRA trong đánh giá sự tham gia của người dân tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài khảo sát mẫu điều tra thực địa với quy mô và cơ cấu như thế nào?
Tác giả đã chọn ngẫu nhiên 3/15 thôn của xã Bộc Bố, khảo sát 20 hộ/thôn (tổng số 60 hộ dân) và 3 tổ chức xã hội nòng cốt gồm Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên với 9 người/tổ chức (tổng số 27 người).

2. Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được áp dụng trong đề tài dựa trên cơ sở pháp lý nào?
Đề tài căn cứ vào Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định 19 tiêu chí NTM và các quy định sửa đổi bổ sung 5 tiêu chí (văn bản số hiệu 342) về chợ nông thôn, thu nhập, cơ cấu lao động, giáo dục và y tế.

3. Cơ cấu sử dụng đất của xã Bộc Bố năm 2013 có đặc điểm gì nổi bật?
Trong tổng diện tích tự nhiên 5.336,53 ha, đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 79,18% (4.225,42 ha), đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 5,83% (311,00 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 3,73% (199,18 ha) và diện tích đất chưa sử dụng còn 11,14% (594,74 ha).

4. Thực trạng dân số, lao động và tỷ lệ hộ nghèo tại xã Bộc Bố năm 2013 ra sao?
Năm 2013, xã có 3.985 nhân khẩu, 867 hộ (trong đó 78,32% là hộ nông nghiệp); lực lượng lao động có 2.913 người với 65,43% làm nông nghiệp và 34,57% làm phi nông nghiệp; toàn xã có 224 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 25,83%.

5. Chương trình dự án cụ thể nào về chăn nuôi được triển khai tại xã Bộc Bố trong giai đoạn nghiên cứu?
Năm 2013, Ban thực hiện dự án 3PAD thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Kạn đã phối hợp với UBND xã triển khai tập huấn kỹ thuật và hỗ trợ 25 con lợn giống nái Móng Cái cho 5 nhóm gồm 75 hộ gia đình tại 5 thôn của xã.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Ngọc Luân đã phân tích có hệ thống thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sự tham gia của người dân cùng các đoàn thể trong xây dựng nông thôn mới tại xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng lớn về đất lâm nghiệp và nguồn lao động, song địa phương vẫn đối mặt với tỷ lệ hộ nghèo cao và hạ tầng chưa hoàn thiện. Trên cơ sở phương châm 7 bước tham gia của người dân, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp thiết thực từ bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng đến phát triển sản xuất hàng hóa và bảo vệ môi trường, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác phát triển nông thôn miền núi.