Tổng quan nghiên cứu
Sau 5 năm triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015 theo Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, diện mạo nông thôn Việt Nam đã có những bước chuyển biến căn bản. Mức thu nhập bình quân đầu người tại khu vực nông thôn cả nước tăng 1,9 lần so với năm 2010, đạt 24,4 triệu đồng/năm. Đáng chú ý, cả nước đã có 11 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn và 183 xã đặc biệt khó khăn nỗ lực vươn lên đạt từ 10 tiêu chí nông thôn mới trở lên. Tuy nhiên, tại các địa bàn miền núi và vùng sâu vùng xa, quá trình tổ chức thực hiện vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về tính bền vững. Vấn đề nghiên cứu then chốt là nhận thức của một bộ phận cán bộ cơ sở và người dân còn mang nặng tâm lý thụ động, ỷ lại vào 100% nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, chưa thực sự khơi dậy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phát triển nông thôn của tác giả Đinh Thị Duyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Ngọc Lan tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Đánh giá đúng thực trạng mức độ tham gia của cộng đồng trong toàn bộ tiến trình xây dựng nông thôn mới. Nghiên cứu được triển khai khảo sát thực địa tại 3 xã đại diện gồm Đức Long, Minh Khai và Đức Xuân thuộc huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2011 - 2015 và hoàn thiện năm 2016. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là xác lập cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tỷ lệ huy động nguồn lực nội sinh từ cộng đồng, phấn đấu nâng mức đóng góp tự nguyện của người dân lên trên 30% tổng vốn đầu tư hạ tầng dân sinh và gia tăng chỉ số đồng thuận xã hội đạt trên 85% trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng (Community-Based Rural Development - CBRD). Khung lý thuyết này khẳng định sự phát triển bền vững phải bắt nguồn từ nội lực và năng lực tự quyết của chính người dân (capacity-driven), thay vì áp đặt theo hướng tiếp cận thụ động dựa trên nhu cầu trợ cấp bên ngoài (needs-driven). Bên cạnh đó, tác giả vận dụng khung phân tích sự tham gia của Cohen và Uphoff năm 1979 cùng mô hình 4 cấp độ tham gia của Okafor năm 1997, bao gồm: tham gia vào các cuộc họp bàn kế hoạch, tham gia vào tiến trình ra quyết định, tham gia đóng góp nguồn lực (tiền của, ngày công, đất đai) và tham gia giám sát, đánh giá các công trình công cộng.
Hệ thống khái niệm chính trong luận văn bao gồm: Nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X; Nội lực cộng đồng (bao gồm tổng hòa 5 nguồn vốn: vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn xã hội và vốn tài chính); và Thiết chế tự quản làng xã truyền thống. Nghiên cứu cũng đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc vào thập niên 1970 - nơi chính phủ hỗ trợ mồi 300 bao xi măng ban đầu kích hoạt mức đóng góp gấp 5 đến 10 lần công sức của người dân và thúc đẩy thu nhập nông hộ tăng gấp 3 lần sau 5 năm; kết hợp bài học từ phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại tỉnh Oita, Nhật Bản từ năm 1979 đã tạo ra 329 dòng sản phẩm đặc trưng có giá trị thương mại cao.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 15 báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, quy hoạch nông thôn mới định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Thạch An và 3 xã khảo sát trong giai đoạn 2011 - 2015. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi trực tiếp với cỡ mẫu là 150 hộ gia đình (phân bổ đồng đều 50 hộ/xã tại Đức Long, Minh Khai và Đức Xuân) cùng 18 cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ chủ chốt của xã và ban phát triển thôn bản.
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên các tiêu chí về mức thu nhập (hộ khá giàu, trung bình, nghèo) và vị trí địa lý (thôn vùng thấp và thôn vùng cao đặc biệt khó khăn), đảm bảo tính đại diện chân thực cho cơ cấu dân cư đa dân tộc như Tày, Nùng, Mông, Dao. Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu là thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp định tính theo các nấc thang tham gia. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác các khoản đóng góp phi tiền mặt (như ngày công lao động, vật liệu xây dựng tại chỗ và diện tích đất hiến tặng), đồng thời giải mã được các rào cản tâm lý xã hội học của đồng bào miền núi trong suốt timeline thực hiện từ năm 2011 đến năm 2016.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu tại huyện Thạch An mang lại 4 phát hiện thực tiễn quan trọng:
Thứ nhất, tỷ lệ người dân tham gia các cuộc họp phổ biến chủ trương nông thôn mới đạt mức rất cao là 82,7% tổng số hộ khảo sát. Tuy nhiên, mức độ tham gia thảo luận sâu và đóng góp ý kiến xây dựng quy hoạch hạ tầng lại ở mức rất thấp, chỉ đạt 28,5%, phản ánh tình trạng người dân chủ yếu đến nghe truyền đạt một chiều.
Thứ hai, nội lực đóng góp của cộng đồng chủ yếu thể hiện qua ngày công lao động và hiến đất xây dựng công trình. Có tới 73,3% số hộ gia đình đã trực tiếp đóng góp từ 10 đến 25 ngày công/hộ/năm để san gạt mặt bằng và đổ bê tông đường giao thông nông thôn. Đặc biệt, có hơn 45 hộ dân tại 3 xã đã tự nguyện hiến tặng trên 12.500 m2 đất canh tác và đất thổ cư để mở rộng đường trục xóm và công trình trường học.
Thứ ba, tỷ lệ đóng góp bằng tiền mặt rất hạn chế, chỉ đạt 18,6% số hộ tham gia. Nguyên nhân bắt nguồn từ điều kiện kinh tế khó khăn khi tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại 3 xã nghiên cứu vẫn chiếm tỷ trọng cao từ 35,4% đến 48,2% tổng số dân cư.
Thứ tư, hiệu quả hoạt động của Ban giám sát đầu tư cộng đồng còn mờ nhạt. Chỉ có 31,2% số người dân được hỏi nắm được quyền hạn và quy trình giám sát chất lượng vật liệu cát, sỏi, xi măng, trong khi 68,8% số hộ hoàn toàn phó mặc trách nhiệm kiểm tra cho chính quyền cấp xã và nhà thầu xây dựng.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tham gia thiếu cân đối tại huyện Thạch An phản ánh rõ nét sự bất cập trong cách thức triển khai. Nguyên nhân cốt lõi là công tác tuyên truyền chưa gắn liền với trao quyền thực chất. Người dân miền núi vẫn mang tâm lý e ngại cơ quan công quyền, thiếu kỹ năng quản lý dự án và thiếu niềm tin vào tính minh bạch của các khoản thu chi đóng góp. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu xã hội học nông thôn gần đây ở vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, khẳng định rằng tại các địa bàn khó khăn, người dân thường dừng lại ở vai trò người thực thi lao động chân tay chứ chưa trở thành chủ thể ra quyết định.
Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, cơ cấu nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới tại địa phương có thể được mô tả hiệu quả qua biểu đồ hình tròn (Pie Chart), thể hiện rõ tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước chiếm 65%, vốn lồng ghép các chương trình giảm nghèo chiếm 20% và vốn đóng góp từ nội lực nhân dân chiếm 15%. Đồng thời, bảng tổng hợp so sánh chéo kết hợp biểu đồ cột phân nhóm (Grouped Bar Chart) sẽ làm nổi bật sự chênh lệch sâu sắc giữa tỷ lệ tham gia họp (82,7%) so với tỷ lệ trực tiếp tham gia ra quyết định (28,5%) và tỷ lệ tham gia giám sát (31,2%) trên từng địa bàn xã.
Đề xuất và khuyến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực địa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao sự tham gia của cộng đồng:
Thứ nhất, tổ chức đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền và nâng cao năng lực cho người dân. Ủy ban nhân dân huyện Thạch An cùng các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Phụ nữ) cần định kỳ triển khai 12 lớp tập huấn kỹ năng quản lý cộng đồng mỗi năm bằng hình thức song ngữ (tiếng phổ thông và tiếng dân tộc bản địa), hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ người dân hiểu đúng và đầy đủ về 19 tiêu chí nông thôn mới từ 45% lên trên 85% trong giai đoạn 2017 - 2020.
Thứ hai, thể chế hóa cơ chế phân cấp và giao quyền tự chủ tối đa cho cơ sở. Ban Chỉ đạo nông thôn mới huyện cần ban hành quy định giao quyền làm chủ đầu tư trực tiếp cho 100% Ban phát triển thôn đối với các công trình hạ tầng có quy mô dưới 500 triệu đồng. Thời gian hoàn thành việc triển khai thí điểm và áp dụng diện rộng bắt đầu từ quý II năm 2017.
Thứ ba, đa dạng hóa linh hoạt các hình thức huy động nội lực cộng đồng. Ủy ban nhân dân các xã cần thay thế yêu cầu đóng góp bằng tiền mặt bắt buộc bằng phương thức quy đổi ngày công, hiến đất và khai thác vật liệu sẵn có tại địa phương (đá, cát, sỏi suối), phấn đấu nâng tỷ trọng giá trị đóng góp phi tiền mặt đạt trên 40% tổng kinh phí kiến thiết giao thông nông thôn đến hết năm 2019.
Thứ tư, thiết lập cơ chế công khai minh bạch tài chính và củng cố hoạt động giám sát nhân dân. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các xã chịu trách nhiệm kiện toàn 100% Ban giám sát đầu tư cộng đồng, bắt buộc thực hiện niêm yết công khai dự toán, bảng chấm công và quyết toán tại nhà văn hóa thôn đối với 100% công trình dân sinh, đảm bảo chỉ số hài lòng của cư dân về tính minh bạch đạt trên 90% từ năm 2018.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:
Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý và chuyên viên công tác tại Văn phòng Điều phối Nông thôn mới từ cấp tỉnh, huyện đến cấp xã. Nhóm này có thể ứng dụng ngay bộ chỉ tiêu đánh giá 4 nấc thang tham gia để thiết kế quy trình giao quyền tự chủ trực tiếp cho 100% ban phát triển thôn bản tại các vùng cao.
Nhóm thứ hai là cấp ủy Đảng và lãnh đạo chính quyền địa phương tại các địa bàn miền núi có tỷ lệ hộ nghèo trên 30%. Luận văn cung cấp case study thực tế giúp các nhà lãnh đạo xây dựng cơ chế huy động ngày công và vật tư thay thế tiền mặt, tránh phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản và duy trì bền vững các tiêu chí đạt chuẩn.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học nông thôn. Đây là nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực với bộ số liệu khảo sát 150 hộ gia đình tại Cao Bằng, hỗ trợ định hướng các đề tài nghiên cứu mở rộng trong giai đoạn phát triển 2021 - 2030.
Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và chuyên gia phát triển cộng đồng quốc tế. Dữ liệu luận văn giúp tối ưu hóa thiết kế các dự án viện trợ sinh kế và hạ tầng dựa vào cộng đồng cho trên 70% đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc.
Câu hỏi thường gặp
Sự tham gia của cộng đồng đóng vai trò quyết định như thế nào đến tính bền vững của nông thôn mới? Cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp kiến tạo và thụ hưởng thành quả. Thực tế tại huyện Thạch An chứng minh các công trình do dân tự bàn và tự làm giúp tiết kiệm từ 20% đến 30% tổng chi phí đầu tư so với đấu thầu bên ngoài. Hơn nữa, trên 95% công trình do cộng đồng tự quản lý đạt hiệu quả sử dụng lâu dài nhờ ý thức tự bảo dưỡng thường xuyên.
Làm thế nào để huy động nội lực hiệu quả khi tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương vượt mức 40%? Chính quyền cần chuyển hướng linh hoạt sang huy động các nguồn lực phi tiền tệ như ngày công lao động, vật liệu sẵn có và hiến đất. Minh chứng tại xã Đức Long, người dân đã tự nguyện đóng góp hơn 3.200 ngày công và hiến trên 4.000 m2 đất, giúp hoàn thành 100% đường liên thôn mà không tạo áp lực tài chính lên hộ nghèo.
Khung lý thuyết nào phù hợp nhất để đánh giá mức độ tham gia của người dân nông thôn? Luận văn kết hợp khung lý thuyết của Cohen và Uphoff năm 1979 cùng mô hình 4 cấp độ tham gia của Okafor năm 1997. Khung phân tích này đo lường toàn diện 4 giai đoạn cụ thể gồm: tham gia họp bàn, tham gia ra quyết định, tham gia đóng góp nguồn lực và trực tiếp giám sát chất lượng thông qua hệ thống chỉ báo định lượng rõ ràng.
Rào cản lớn nhất đối với sự tham gia của người dân miền núi trong xây dựng nông thôn mới là gì? Rào cản lớn nhất là sự bất đối xứng thông tin và tâm lý thụ động trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước. Số liệu khảo sát thực tế cho thấy 68,8% người dân chưa nắm rõ quy trình giám sát công trình. Khi tính minh bạch chưa cao, tỷ lệ người dân chủ động tham gia ý kiến ra quyết định chỉ đạt vỏn vẹn 28,5%.
Bài học quốc tế nào có thể áp dụng thành công cho các huyện vùng cao tại Việt Nam? Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc năm 1970 là bài học kinh nghiệm điển hình. Việc Nhà nước hỗ trợ mồi 300 bao xi măng kích hoạt người dân tự nguyện đóng góp nguồn lực gấp 5 đến 10 lần. Cơ chế thưởng dựa trên hiệu quả thi công này đã giúp các làng khó khăn tăng thu nhập gấp 3 lần chỉ sau 5 năm.
Kết luận
- Luận văn đánh giá toàn diện mức độ tham gia xây dựng nông thôn mới của 150 hộ dân tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2015.
- Nghiên cứu chỉ rõ khoảng cách lớn giữa tỷ lệ tham gia cuộc họp đạt 82,7% nhưng tỷ lệ trực tiếp tham gia ra quyết định chỉ đạt 28,5%.
- Khẳng định giá trị của việc huy động nguồn lực phi tiền tệ khi 73,3% số hộ đóng góp ngày công và tự nguyện hiến trên 12.500 m2 đất.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn với việc phân quyền làm chủ đầu tư các công trình dưới 500 triệu đồng cho thôn bản.
- Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch phát triển nông thôn bền vững cho giai đoạn 2016 - 2020 và tầm nhìn 2030.
Đóng góp lớn nhất của công trình là lượng hóa chính xác các chỉ số tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số và đề xuất quy trình trao quyền tự quản cụ thể cho cấp cơ sở. Timeline hành động tiếp theo yêu cầu chính quyền địa phương hoàn thiện thể chế phân cấp ngay trong quý II năm 2017 và nhân rộng mô hình giám sát cộng đồng đến 100% các xã trong toàn huyện trước năm 2020. Hãy áp dụng ngay các giải pháp thực tiễn từ luận văn thạc sĩ này để phát huy tối đa sức mạnh nội sinh của nhân dân, biến cộng đồng thành trung tâm của mọi thắng lợi trong sự nghiệp phát triển nông thôn hiện đại.