Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Lợi ích Trong ngôn ngữ thường ngày, từ “lợi ích” có ba nghĩa liên quan với nhau.
Một ai đó được nói là quan tâm đến một chủ đề, theo nghĩa là nó kích thích sự chú ý hay tò mò của người ấy. Cách dùng này ít có ý nghĩa chuyên môn trong các ngành khoa học xã hội. Trong cách dùng thứ hai, lợi ích được sử dụng như một từ đồng nghĩa với sự sở hữu hay đầu tư. Cách dùng này liên quan chặt chẽ với cách sử dụng rộng rãi hơn, theo đó lợi ích bao gồm bất kỳ thứ gì góp phần vào sự sung túc nói chung hay hoàn thành những mục tiêu của một cá nhân.
Hai cách dùng này rất quan trọng trong triết học và các khoa học xã hội [14]. Triết học chính trị của Thomas Hobbes hình thành dựa trên quan điểm duy vật về bản tính con người, theo đó sự tự bảo tồn là động cơ nền tảng của mọi hành động. Quan điểm lợi ích tự thân về động cơ của con người cũng được thừa nhận rộng rãi hơn trong môn kinh tế học chính trị. Nhưng quan điểm này bị David Hume, Adam Ferguson và nhiều người khác bác bỏ dựa trên một số căn cứ.
Con người về bản chất là có tính xã hội, vì vậy không thể phân biệt rạch ròi giữa lợi ích tự thân và lợi ích của người khác. Ferguson đặc biệt chỉ trích việc gắn lợi ích và của cải kinh tế và sự chiếm hữu ruộng đất, khi lập luận rằng những phẩm chất như can đảm, lương thiện và trung thành là những thứ có giá trị cao hơn nhiều của bản ngã, vì vậy phải chiếm vị trí cao quý trong bất cứ một lý giải thỏa đáng nào về lợi ích [14]. Bất chấp quan điểm của Ferguson, truyền thống duy vật trong việc khái niệm hóa lợi ích trước hết trong mối quan hệ với của cải, vật chất hay quyền lực chính trị và tách chúng ra khỏi lĩnh vực của các giá trị và nguyên lý vẫn cứ tồn tại dai dẳng, cả trong ý thức thông thường cũng như trong khoa học xã hội và 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học chính trị. Tuy vậy, một bước chuyển quan trọng diễn ra vào thế kỷ XIX, đặc biệt trong khung cảnh chủ nghĩa duy vật lịch sử của K.Engels, đó là việc gán lợi ích thành một thuộc tính cho những tác nhân tập thể giả định – các giai cấp và các nhóm xã hội.
Việc làm này về sau đã trở nên phổ biến trong các lĩnh vực như Xã hội học công nghiệp, Xã hội học chính trị và Xã hội học nghề nghiệp, cũng như áp dụng cho bất kỳ nhóm nào có những lợi ích chung có thể xác định được về kinh tế hay về xã hội để bảo vệ những bất lợi chung cần phải vượt qua [14]. Ưu điểm lớn nhất của khái niệm lợi ích là khả năng rõ ràng của nó trong việc kết nối những phân tích về các điều kiện khách quan của đời sống với những khuôn mẫu của niềm tin và hành động. Tuy vậy, vẫn còn một số vấn đề gây tranh cãi là liệu có thể gán một cách chính đáng một lợi ích nào đó cho một cá nhân hay một nhóm khi không biết gì cả về những niềm tin và mục đích của nhóm hay không. Nếu chuyện đó là không thể được, thì phần lớn hiệu lực của những giải thích dựa vào lợi ích sẽ không đạt được hiệu quả.
Hầu hết các nhà xã hội học có lẽ cũng cho rằng ý thức về bản sắc xã hội của một cá nhân cần phải đi trước quan niệm về lợi ích tự thân của người đó – và vì lý do đó mà các lợi ích thường được xác định một cách chủ quan hơn là được quy định một cách khách quan thuần túy [14]. Trong khuôn khổ luận văn, khái niệm “lợi ích” được hiểu là quyền lợi, giá trị vật chất và giá trị tinh thần có được trong những lĩnh vực khác nhau như kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Những quyền lợi này sẽ giúp cộng đồng hoặc cá nhân phát triển, đồng thời nó đối lập với những thiệt hại về quyền lợi, giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà cộng đồng và cá nhân phải đón nhận. Phân loại lợi ích bao gồm: lợi ích kinh tế, lợi ích văn hóa, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường.
Với giới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sẽ tập trung phân tích chủ yếu những lợi ích kinh tế của cộng đồng và cá nhân trong quá trình phát triển. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cá nhân Cá nhân là mỗi con người với tư cách là thành viên của xã hội loài người. Theo Phạm Minh Hạc cá nhân chỉ là một cấp độ khái niệm về con người [33][34]: - Cấp độ 1, con người với tư cách là khái niệm chung nhất, - Cấp độ 2, cá thể là con người với tư cách là đại diện loài người (một loài sinh vật cao cấp nhất trong tiến hóa của sinh giới), - Cấp độ 3, cá nhân là con người với tư cách là thành viên xã hội loài người, - Cấp độ 4, nhân cách là con người với tư cách là chủ thể hoạt động.
Ông còn cho rằng trong nội hàm của khái niệm con người nói chung, cá nhân nói riêng có tình trạng mâu thuẫn mà thống nhất (hay nói khác đi là tình trạng đối/hợp) giữa các đặc trưng cơ bản sau đây: - Vật lý/Tâm lý, - Bản năng/Ý thức, - Thể xác/Tâm hồn, - Thân thể/Tinh Thần, - Sinh thể/Nhân cách, v.v… Theo một quan điểm trong Xã hội học thì cá nhân không có sẵn mà được hình thành trong quá trình xã hội hóa. Từ điển xã hội học đã đưa ra một định nghĩa về quá trình cá nhân hóa như sau: “Cá nhân hóa là quá trình xuất hiện của cá thể với tư cách là cá nhân duy nhất và không thể thay thế được. Cá nhân hóa là hệ quả của quá trình xã hội hóa gia đình và ngoài gia đình và của quá trình đào tạo sư phạm thông qua việc đưa vào và học các chuẩn giá trị và các quy tắc hành vi xã hội. Mục tiêu của cá nhân hóa là phát huy một nhân cách độc lập và tự chịu trách nhiệm, có khả năng hành động linh hoạt, độc lập” [25, tr.
Tính cá nhân là thuộc tính của các cá nhân. Trong từ điển Tâm lý học, Hofstede đã định nghĩa tính cá nhân như sau: “Tính cá nhân là một mô thức văn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa (cultural pattern), theo đó người ta đặt mình vào trung tâm của trường tri giác, ưu tiên cho các mục tiêu cá nhân khi các mục tiêu này cạnh tranh với các mục tiêu của tập thể, hành động theo các thái độ của mình hơn là theo các chuẩn mực của tập thể và chú ý tới cái được và mất rút ra từ các quan hệ liên cá nhân” [12, tr. Tính xã hội nói chung, tính tập thể nói riêng không phải là số cộng giản đơn của những tính cá nhân. Đó là do bản chất hệ thống xã hội quy định.
Khi nhiều cá nhân hợp lại thành tập thể hay thành hệ thống xã hội thì hệ thống đó có những thuộc tính mới mà mỗi cá nhân riêng lẻ không có. Cá nhân và tập thể cũng như cá nhân và xã hội có quan hệ biện chứng phức hợp, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau. Khi mâu thuẫn bị đẩy tới cực độ thì xuất hiện tình trạng chủ nghĩa cá nhân đối kháng với chủ nghĩa tập thể. Tuy nhiên đấy không phải là tình trạng duy nhất của mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể.
Bởi vì cá nhân còn có thể có những quan hệ khác với tập thể, như cá nhân phục tùng tập thể, cá nhân đồng thuận với tập thể, cá nhân hòa mình vào tập thể, cá nhân hy sinh vì tập thể, v.v… Tính cá nhân cũng vậy, không chỉ có tình trạng tính cá nhân và tính tập thể đối lập, loại trừ nhau mà còn có thể có cả tình trạng hỗn hợp cả hai tính cá nhân và tập thể với những liều lượng, mức độ khinh – trọng khác nhau như: hỗn hợp trọng tính cá nhân hơn tính tập thể hoặc hỗn hợp đề cao tính tập thể hơn tính cá nhân hoặc hỗn hợp cân bằng tính cá nhân và tính tập thể. Những khuôn mẫu văn hóa này không nhất thành bất biến vì người ta có thể điều chỉnh hoặc thay đổi khinh – trọng giữa tính cá nhân và tính tập thể tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và sự lựa chọn của mỗi con người hoặc mỗi tập thể với cái giá mà họ đánh cược cho sự quyết chọn đó [45, tr. Cộng đồng Trước tiên, chúng ta cần phân biệt “cộng đồng tính” với “cộng đồng thể” như sau: cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng còn cộng đồng thể là các nhóm 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể trạng có quy mô và trình độ khác nhau [46]. Về cộng đồng thể, khái niệm cộng đồng có hai nghĩa: tuyến thứ nhất liên quan tới cái nhìn địa lý, coi cộng đồng là nhóm dân cư cùng sinh sống trong một địa vực nhất định và có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản.
Nghĩa thứ hai coi cộng đồng là một nhóm dân cư có cùng chung những mối quan tâm cơ bản, với nghĩa này đôi khi các cộng đồng có thể được biến đổi bởi quá trình vận động của lịch sử, làm cho các thành viên của cộng đồng cũng phải biến đổi nhận thức và hành vi. Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, bạn bè…) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn. Nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích riêng lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về mặt tinh thần – tâm linh bao quát hơn (láng giềng, phường hội, nhà thờ…) và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị [25].