MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của ngƣời dân ngày càng nâng cao thì vai trò của nghành chăn nuôi càng trở nên quan trọng và nhiệm vụ của công tác chăn nuôi thú y càng trở nên nặng nề hơn. Trong vấn đề lƣơng thực, thực phẩm, xã hội không chỉ quan tâm tới việc đầy đủ về số lƣợng hay không mà tiêu chí đã hƣớng tới sự đảm bảo, mức độ an toàn đối với cộng đồng. Những năm gần đây, nghành chăn nuôi Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều dịch bệnh nghiêm trọng nhƣ Lở mồm long móng, dịch Cúm gia cầm, dịch Tai xanh trên lợn…gây tổn thất không nhỏ về kinh tế.
Trong chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của Chính phủ; Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, chăn nuôi nƣớc ta sẽ hƣớng tới sự tập trung công nghiệp, sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu. Các sản phẩm của nghành chăn nuôi phải đảm bảo vệ sinh môi trƣờng đặc biệt đáp ứng đƣợc nhu cầu về an toàn thực phẩm. Nhƣ vậy, việc giám sát quy trình sản xuất từ đầu vào của nghành chăn nuôi tới thành phẩm cho ngƣời tiêu dùng đòi hỏi phải chặt chẽ. Trong chăn nuôi, lợn là vật nuôi chiếm tỷ trọng cao nhất, các sản phẩm từ thịt lợn cũng là mặt hàng chính trên thị trƣờng buôn bán do nhu cầu tiêu thụ của ngƣời dân cao.
Do đó, bất cứ yếu tố nào nguy hiểm có hại nhƣ dịch bệnh đều gây ảnh hƣởng xấu đến giá cả thị trƣờng và làm giảm hiệu quả kinh tế của nghành chăn nuôi lợn. Một trong những bệnh thƣờng xuyên xảy ra chính là phân trắng lợn con trong giai đoạn theo mẹ. Bệnh xảy ra làm cho lợn bị viêm ruột ỉa chảy, mất nƣớc và điện giải dẫn đến giảm sức đề kháng, còi cọc và chết nếu không điều trị kịp thời. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nƣớc về bệnh phân trắng lợn con và đƣa ra các biện pháp phòng và trị bệnh, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế các thiệt hại do phân trắng lợn con gây ra.
Tuy nhiên sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, sự tác động phối hợp của nhiều nguyên nhân và đặc điểm sinh lý cơ thể gia súc non đã ảnh hƣởng không nhỏ đến ứng dụng kết quả nghiên cứu. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình bệnh phân trắng lợn con và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn Cẩm Phong, Cẩm Thủy, Thanh Hóa” 1 1. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Khảo sát tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng tại trại lợn xã Cẩm Phong huyện Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá.
- So sánh hiệu quả điều trị của 2 phác đồ và tìm ra phác đồ điều trị hiệu quả. Yêu cầu cần đạt Xác định đƣợc tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng tại trại lợn xã Cẩm Phong huyện Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá. - So sánh đƣợc kết quả điều trị của 2 phác đồ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả khảo sát về tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ từ 0-28 ngày tuổi và kết quả đánh giá đƣợc hiệu quả điều tra của 2 phác đồ, có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành chăn nuôi thú y. Ý nghĩa thực tiễn Qua kết quả nghiên cứu về hiệu lực điều trị của thuốc đối với bệnh phân trắng tại trang trại từ đó làm cơ sở để công ty có kế hoạch chủ động trong công tácphòng và điều trị bệnh đạt hiệu quả cao nhất trong chăn nuôi lợn. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở khoa học đặc điểm sinh lý của lợn con 2. Tốc độ sinh trưởng không đều. Lợn con có tốc độ sinh trƣởng cao nhƣng không đều. Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trƣởng cao nhƣng không đều qua các giai đoạn: khối lƣợng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp 7 - 8 lần lúc sơ sinh, lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần lúc sơ sinh.
Trích theo Lƣơng Quang Huy (2006) [13]. Tốc độ sinh trƣởng phát dục nhanh nhất là 21 ngày đầu sau khi sinh, sau 21 ngày tuổi tốc độ sinh trƣởng giảm dần. Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân nhƣng chủ yếu là do lƣợng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm xuống và hàm lƣợng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm tốc độ phát triển thƣờng kéo dài khoảng 2 tuần và gọi là giai đoạn khủng hoảng 1 của lợn con.
Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn này bằng cách tập cho lợn con ăn sớm để bổ sung thức ăn cho chúng. Bộ máy tiêu hóa phát triển nhưng chưa hoàn thiện Theo Vũ Đình Tôn và cs (2009) [12], thời kỳ này đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa của lợn con chính là sự phát triển nhanh của cơ quan tiêu hóa song chƣa hoàn thiện. Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích và khối lƣợng của bộ máy tiêu hóa, còn chƣa hoàn thiện thể hiện ở số lƣợng cũng nhƣ hoạt lực của một số men trong đƣờng tiêu hóa. Mặc dù dung tích tăng lên rất nhanh song hệ thống men chƣa phát triển chƣa đầy đủ.
Men Pepsin: khoảng 25 ngày đầu sau khi đẻ ra men Pepsin trong dạ dày lợn con chƣa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn. Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con mới có HCl ở dạng tự do và men Pepsinogen không hoạt động mới đƣợc HCl hoạt hoá thành men Pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá thức ăn hoàn chỉnh. 3 + Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dƣới 25 ngày tuổi rất dễ bị nhiễm khuẩn đƣờng tiêu hoá. + Men đặc biệt trong giai đoạn dƣới 3 tuần tuổi hoạt tính của hai men này còn thấp nên khả năng tiêu hoá thức ăn kém.
+ Men Saccaraza: Đối với lợn con dƣới hai tuần tuổi men Saccaraza hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đƣờng Saccaraza thì rất dễ bị ỉa chảy. Lợn con dƣới 3 tuần tuổi chỉ có một số men tiêu hoá có hoạt tính mạnh nhƣ: Tripsin, Satepsin, Lactaza, Lipiza và Kimozin.Amilaza và Mantaza: Hai men này có ở trong nƣớc bọt và dịch tuỵ khi lợn con mới đẻ ra. Trích theo Nguyễn Nhƣ Thanh (1997) [14]. Chức năng điều hoà thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [15], lúc mới sinh thân nhiệt của lợn con là 38,5 - 390C, thân nhiệt trung bình là 33 - 350C.
Khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhịêt của lợn con tạm thời tụt xuống, nguyên nhân chủ yếu là do trọng lƣợng lợn lúc này nhỏ, lớp mỡ dƣới da mỏng, lƣợng mỡ và glycogen dự trữ còn ít, trên thân lông thƣa nên khả năng giữ nhiệt và sự chống lại yếu tố lạnh kém. Vì vậy thân nhiệt lợn con tuỳ thuộc và nhiệt độ và độ ẩm chuồng nuôi. Ở giai đoạn này năng lƣợng điều hoà thân nhiệt kém: nhiệt độ trực tràng giảm 2 0C khi nhiệt chuồng nuôi 180C nhƣng sẽ giảm 50C khi nhiệt độ chuồng nuôi là 110C (sau 20 phút). Thân nhiệt trở lại bình thƣờng sau 24 giờ.
Sức đề kháng của cơ thể còn thấp Khi mới sinh ra miễn dịch của lợn con rất kém hoàn toàn phụ thuộc vào sữa mẹ lúc này kháng thể _globulin dất thấp, lƣợng kháng thể tăng nhanh khi lợn con đƣợc bú sữa đầu. Trong sữa đầu của lợn nái, hàm lƣợng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ hàm lƣợng protein chiếm 18 - 19%, trong đó hàm lƣợng _globulin chiếm số lƣợng khá lớn (34 - 35%). _globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò vô cùng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con.
_globulin trong sữa đầu đƣợc lợn con hấp thụ bằng con đƣờng ẩm bào. Quá trình hấp thụ nguyên vẹn phân tử _globulin giảm rất nhanh 4 theo thời gian. Do đó lợn con không đƣợc bú sữa đầu sớm thì sức đề kháng rất kém, khả năng mắc bệnh rất cao, tỷ lệ chết cao. Đây là một điều rất quan trọng, đòi hỏi ngƣời chăn nuôi cần phải biết, hiểu rõ để có phƣơng pháp chăn nuôi tốt, nhất là chăn nuôi lợn nái sinh sản.
Cơ sở khoa học về bệnh phân trắng lợn con 2. Nguyên nhân gây bệnh Bệnh phân trắng lợn con đã và đang đƣợc rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và đƣa ra những nhận định khác nhau về nguyên nhân gây bệnh. Song tập trung nguyên nhân gây bệnh có thể theo hai hƣớng chính nhƣ sau: - Nguyên nhân nội tại - Nguyên nhân do ngoại cảnh * Nguyên nhân nội tại Theo các tác giả Nguyễn Nhƣ Thanh (1997) [14], khi mới sinh, cơ thể lợn con chƣa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch. Trong dạ dày lợn con thiếu axít HCl do đó pH dạ dày cao (pH = 3 - 4), tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
Khi thiếu HCl, Pepsinogen tiết ra không trở thành men pepsin hoạt động đƣợc. Khi thiếu men pepsin, sữa mẹ không đƣợc tiêu hoá và bị kết tủa dƣới dạng casein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của casein chƣa đƣợc tiêu hoá). Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết nhiệt của lợn con chƣa hoàn chỉnh, do đó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thƣờng của thời tiết, khí hậu. Lƣợng mỡ dƣới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1%.
Lúc khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt. Đặc điểm này lý giải tại sao bệnh này lại hay xảy ra ồ ạt, hàng loạt khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thƣờng. * Nguyên nhân do ngoại cảnh Gần đây nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã thống nhất. Bệnh phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng 5 loạt các yếu tố.
Do đó việc phân chia nguyên nhân chỉ là tƣơng đối, nhằm mục đích xác định nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp phòng trị có hiệu quả. Qua các tài liệu của nhiều tác giả, có thể chia thành những nguyên nhân chính nhƣ sau: + Do điều kiện thời tiết khí hậu + Do đặc điểm nuôi dƣỡng + Do vi khuẩn mà chủ yếu là E.