Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rừng giữ vai trò thiết yếu trong việc duy trì cân bằng sinh thái, điều hòa khí thái, chu chuyển nguồn nước, chống xói mòn và giảm thiểu sức tàn phá của thiên tai. Tại tỉnh Phú Yên, tổng diện tích rừng được quản lý đạt gần 110.000 ha, chiếm 21,6% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Huyện miền núi Đồng Xuân là địa phương có diện tích rừng phòng hộ lớn nhất toàn tỉnh với 24.000 ha, trong đó có hơn 400 ha rừng trồng, phân bố trọng tâm tại xã Phú Mỡ.

Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân được thành lập theo Quyết định số 1892/QĐ-UBND ngày 21/11/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên, quản lý lâm phần nằm trên địa bàn hai xã Phú Mỡ và Xuân Lãnh, cách thành phố Tuy Hòa 90 km về phía Tây Bắc. Địa bàn xã Phú Mỡ là nơi cư trú lâu đời của hai dân tộc bản địa Ba na và Chăm H’roi. Đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng nơi đây gắn bó mật thiết với rừng. Tuy nhiên, tình trạng suy giảm diện tích và suy thoái chất lượng rừng tự nhiên diễn ra phức tạp, xuất phát từ các hoạt động chặt phá rừng làm rẫy, đào bới tìm trầm, phát dọn thực bì và khai thác lâm sản trái phép. Nhằm tìm kiếm giải pháp vừa bảo tồn tài nguyên rừng, vừa cải thiện sinh kế cộng đồng, tác giả Ông Tú Minh (ngành Quản lý tài nguyên rừng, Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Đánh giá tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân tỉnh Phú Yên".

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng, từ đó góp phần đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định và đánh giá được các hình thức cùng mức độ tác động của người dân đến tài nguyên rừng.
    • Xác định nguyên nhân chính dẫn đến những tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài nguyên rừng.
    • Đề xuất các giải pháp nhằm giảm sức ép lên tài nguyên rừng và thu hút người dân tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những tác động bất lợi của cộng đồng dân tộc địa phương (Ba na và Chăm H’roi) lên tài nguyên rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân.
  • Phạm vi không gian: Lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân, tập trung khảo sát thực địa và phỏng vấn dân cư tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu sơ cấp, thứ cấp từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên lý thuyết sinh thái học rừng, lâm nghiệp xã hội và các nguyên lý quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng. Tác giả tham chiếu các công ước và chương trình lâm nghiệp quốc tế như Kế hoạch hành động lâm nghiệp nhiệt đới (TFAP), Hiệp ước quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA), Công ước CITES 1973, Công ước Đa dạng sinh học 1992, Nghị định thư Montreal 1987, các tài liệu của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Khóa luận cũng kế thừa các mô hình sử dụng đất nông - lâm kết hợp bền vững như SALT 1 (canh tác trên đất dốc), SALT 2 (nông - lâm - đồng cỏ), SALT 3 và hệ thống Taungya.

Tại Việt Nam, tác giả tổng kết các công trình lý luận và thực nghiệm về mâu thuẫn giữa sinh kế cư dân bản địa và bảo tồn rừng đặc dụng, rừng phòng hộ: nghiên cứu sắp xếp hệ thống rừng đặc dụng của Trần Đình Đàn (1998); nghiên cứu về sự phụ thuộc của cộng đồng vùng đệm vào Vườn quốc gia Ba Vì của Nguyễn Bá Ngãi (2003); công trình nghiên cứu nhu cầu củi đốt của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể của Lê Thu Hiền và Võ Đại Hải.

Về phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ Chi cục Thống kê huyện Đồng Xuân, báo cáo hiện trạng rừng và công tác quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân, cùng các văn bản quy hoạch 3 loại rừng của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên (Quyết định số 2570/QĐ-UBND ngày 18/10/2017).
  • Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Thực hiện điều tra xã hội học lâm nghiệp với dung lượng mẫu $n = 30$ hộ gia đình tại xã Phú Mỡ, bao gồm 20 hộ dân tộc Ba na và 10 hộ dân tộc Chăm H’roi. Nội dung phỏng vấn tập trung vào các hoạt động khai thác lâm sản, chăn thả gia súc, săn bắt động vật, nhu cầu sử dụng củi, gỗ và nhận thức pháp luật bảo vệ rừng.
  • Phương pháp lập tuyến điều tra thực địa: Thiết lập 3 tuyến khảo sát xuất phát từ ranh giới bản làng đi theo đường mòn dẫn sâu vào lâm phần rừng phòng hộ đến khi hết dấu vết xâm hại. Đánh giá mức độ tác động dựa trên 3 tiêu chí: mức độ chặt cây/cành, dấu vết chăn thả động vật nuôi (phân, vết chân, bãi nằm) và dấu vết con người (đốt thực bì, phát quang). Thang điểm đánh giá từ 0 đến 3 (0: không tác động; 1: tác động ít; 2: tác động vừa; 3: tác động mạnh).
Tuyến khảo sát Địa bàn thôn Tọa độ điểm đầu Tọa độ điểm cuối
Tuyến 1 Thôn Phú Tiến N 13°28’12’’ – E 108°55’16’’ N 13°28’23’’ – E 108°53’55’’
Tuyến 2 Thôn Phú Giang N 13°27’27’’ – E 108°55’02’’ N 13°27’55’’ – E 108°53’59’’
Tuyến 3 Thôn Phú Lợi N 13°25’59’’ – E 108°55’29’’ N 13°25’15’’ – E 108°54’21’’
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Tổng hợp, mã hóa thông tin điều tra và xử lý thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Lời mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của công tác quản lý tài nguyên rừng phòng hộ trong bối cảnh diện tích rừng tự nhiên tại huyện Đồng Xuân bị xâm lấn nghiêm trọng. Đặt vấn đề nghiên cứu gắn chặt với việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu sinh kế của cộng đồng Ba na, Chăm H’roi tại xã Phú Mỡ và mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng phòng hộ đầu nguồn. Xác định 1 mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, cùng đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng kết bức tranh suy thoái tài nguyên rừng trên quy mô toàn cầu và trong nước. Số liệu quốc tế chỉ ra mỗi năm thế giới mất 20 triệu ha rừng, diện tích che phủ toàn cầu giảm từ 37 triệu $\text{km}^2$ xuống 32 triệu $\text{km}^2$ giai đoạn 1960–1990; tốc độ mất rừng tập trung tại các vùng nhiệt đới châu Á và lưu vực Amazon.

Tại Việt Nam, áp lực gia tăng dân số, tình trạng nghèo đói và nhu cầu đất canh tác nông nghiệp là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy xâm hại rừng. Tác giả dẫn chứng vùng Đông Bắc là nơi sản xuất củi lớn nhất nước; tại xã Khang Ninh (vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể), nhu cầu củi đốt trung bình của mỗi hộ gia đình lên tới 20,3 kg/ngày (4,1 kg/người/ngày), tạo sức ép lớn lên tốc độ tăng trưởng của rừng tự nhiên (vốn chỉ đạt 2–4 $\text{m}^3\text{/ha/năm}$ theo FAO). Điểm lại các nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngãi tại Vườn quốc gia Ba Vì về tính tất yếu của việc giao khoán đất lâm nghiệp và chia sẻ quyền lợi bảo tồn cho cộng đồng. Tác giả khẳng định tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân chưa từng có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đánh giá định lượng tác động của người dân bản địa, chứng minh tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu là các tác động bất lợi của cộng đồng Ba na và Chăm H'roi tại lâm phần rừng phòng hộ huyện Đồng Xuân; phạm vi thời gian thực hiện từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020. Chi tiết hóa quy trình điều tra phỏng vấn 30 hộ gia đình, nguyên tắc thiết lập 3 tuyến điều tra thực địa theo đường mòn dân sinh (thôn Phú Tiến, Phú Giang, Phú Lợi) kèm tọa độ định vị GPS, tiêu chí phân cấp thang điểm đánh giá mức độ nghiêm trọng từ 0 đến 3, và quy trình xử lý dữ liệu thống kê bằng Microsoft Excel.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội

Lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân nằm trên vùng núi cao chuyển tiếp giữa duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, độ cao trung bình 600 m, đỉnh cao nhất là núi La Hiêng (1.380 m), độ dốc trung bình $20^\circ$, cá biệt trên $40^\circ$. Hệ thống thủy văn gồm sông Kỳ Lộ (dài 105 km, lưu vực 1.950 $\text{km}^2$) cùng các phụ lưu sông La Hiêng, suối Cà Tơn, suối Gấm. Khí hậu chia hai mùa: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 (chiếm 70–80% lượng mưa cả năm), mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 chịu ảnh hưởng mạnh của gió Tây Nam khô nóng. Thổ nhưỡng phân loại theo FAO gồm 3 nhóm chính: đất Feralit đỏ vàng trên đá macma acid (Fa) chiếm 83,77%, đất mùn vàng đỏ trên đá macma acid (Ha) chiếm 16,14%, và đất phù sa dốc tụ (D) chiếm 0,08%.

Tổng diện tích tự nhiên xã Phú Mỡ là 45.601,58 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 42.217,30 ha (92,57%), đất nông nghiệp chỉ chiếm 431,21 ha (0,94%). Về quỹ đất lâm nghiệp được giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân là 22.573,96 ha (xã Phú Mỡ: 21.618,7 ha; xã Xuân Lãnh: 514,3 ha). Theo quy hoạch 3 loại rừng (Quyết định số 2570/QĐ-UBND năm 2017), đất rừng phòng hộ chiếm 17.939,62 ha (81,1%), đất rừng sản xuất chiếm 4.073,54 ha (18,4%), đất khác chiếm 119,84 ha (0,5%). Rừng tự nhiên chiếm diện tích 16.286,03 ha (73,6%), phân bố nhiều loài gỗ quý như Chò, Trâm, Giẻ, Sến, Cồng, Trám, Huỷnh, Muồng đen. Rừng trồng có 2.884,08 ha (13,0%) gồm Keo lá tràm hỗn giao Dầu rái thuộc các dự án 661, JIBIC, Flitch.

Chỉ tiêu quy hoạch rừng (BQL RPH Đồng Xuân) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất quy hoạch rừng phòng hộ 17.939,62 81,1%
- Rừng tự nhiên (TXG: 3.963,19 ha; TXB: 2.348,94 ha; TXP: 9.745,25 ha) 16.057,38 71,1%
- Rừng trồng (Có trữ lượng: 613,15 ha; Chưa có trữ lượng: 812,13 ha) 1.425,28 6,3%
- Đất chưa có rừng (DT2: 366,08 ha; DT1: 90,88 ha) 456,96 2,0%
Đất quy hoạch rừng sản xuất 4.073,54 18,4%
- Rừng tự nhiên (TXG: 1,7 ha; TXP: 226,95 ha) 228,65 1,0%
- Rừng trồng (RTG: 2.270,93 ha; DTR: 448,26 ha) 2.719,19 12,0%
- Đất chưa có rừng (DT2: 771,84 ha; DT1: 332,34 ha) 1.104,18 4,9%
- Nương rẫy định canh (NKCĐ) 31,52 0,1%
Đất khác trong lâm nghiệp (đường, sông suối, làng bản) 119,84 0,5%
Tổng diện tích quản lý 22.573,96 100,0%

Về kinh tế - xã hội, xã Phú Mỡ có 768 hộ với 3.204 nhân khẩu, mật độ dân số rất thưa (7 người/$\text{km}^2$). Thành phần dân tộc Ba na chiếm đa số với 453 hộ (58,98%) và 1.204 khẩu (59,09%). Toàn xã có tới 678 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 88,28%) và 28 hộ cận nghèo (3,64%). Thôn Phú Tiến có tỷ lệ nghèo cao nhất (91,06%), tiếp theo là Phú Giang (87,66%), Phú Hải (83,63%), Phú Đồng (83,08%) và Phú Lợi (76,52%). Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 8 triệu đồng/người/năm. Đánh giá thuận lợi và khó khăn chỉ ra rằng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng chưa được giao khoán trực tiếp cho người dân; diện tích đất sản xuất bị thu hẹp do các dự án thủy lợi, thủy điện khiến người dân phá rừng làm rẫy; lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng quá mỏng so với diện tích quản lý hơn 22.000 ha; kinh phí ngân sách nhà nước cấp hàng năm còn thiếu thốn.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Số liệu lưu trữ cho thấy trong giai đoạn 2015–2019, toàn bộ 100% các vụ vi phạm lâm luật của BQL rừng phòng hộ Đồng Xuân đều diễn ra trên địa bàn xã Phú Mỡ với tổng số 254 vụ. Các hành vi vi phạm gồm: 104 vụ mua bán, vận chuyển, tàng trữ, chế biến lâm sản trái phép; 95 vụ khai thác rừng trái phép; 34 vụ phá rừng làm rẫy; 13 vụ vi phạm quy định bảo vệ rừng; 7 vụ vi phạm PCCCR gây cháy rừng; 1 vụ vi phạm quản lý bảo vệ động vật hoang dã. Riêng hành vi phá rừng có diện tích thiệt hại tăng đột biến qua các năm: năm 2016 xử lý 3 vụ (0,796 ha); năm 2017 xử lý 22 vụ (20,6003 ha); năm 2018 xử lý 9 vụ với diện tích lên tới 157,8697 ha. Trong giai đoạn 2014–2018, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 107 vụ vi phạm hành chính, tịch thu 420 kg gỗ trắc, 8,89 $\text{m}^3$ gỗ các loại, 55 Ster củi và 1.870 cây gỗ non (chủ yếu là cây cồng). Quanh khu vực có 7 xưởng mộc nhỏ, trong đó 5/7 chủ xưởng thừa nhận có thu mua gỗ nhỏ lẻ từ cư dân địa phương.

Về các nhóm đối tượng tác động, giới tính nam chiếm 83,33% (25/30 hộ) do các công việc khai thác gỗ, săn bắt đòi hỏi thể lực nặng nhọc; nữ giới chiếm 16,67% chủ yếu thu hái rau măng, cây thuốc và chăn thả gia súc. Về dân tộc, người Ba na chiếm 67,7% số đối tượng tác động trực tiếp vào rừng; người Chăm H’roi chiếm 33,3% với vai trò trung gian buôn bán lâm sản do cư trú xa rừng hơn. Phân theo độ tuổi, nhóm lao động từ 25–50 tuổi tác động mạnh nhất, chiếm tỷ lệ trung bình 52,57% trong mọi hoạt động khai thác (chiếm 54,17% lao động khai thác gỗ, 60% săn bắt động vật); nhóm 16–25 tuổi chiếm 24,02%; nhóm trên 50 tuổi chiếm 19,01% (tập trung vào thu hái cây thuốc chiếm 26,7%); nhóm dưới 16 tuổi chiếm 4,4%. Về mức độ am hiểu về rừng, có 53,33% (16/30 hộ) hoàn toàn không biết; 36,67% (11/30 hộ) có biết; chỉ 10% (3/30 hộ) am hiểu rõ về quy định pháp luật quản lý rừng.

Khóa luận phân tích chi tiết 7 hình thức tác động của người dân:

  1. Khai thác gỗ: 60% hộ Ba na và 20% hộ Chăm H’roi tham gia. Khảo sát 4 thôn cho thấy trên 75% số hộ phụ thuộc vào gỗ rừng để làm nhà, chuồng trại, hàng rào bảo vệ mùa màng (Phú Giang 93%, Phú Lợi 90%, Phú Tiến 85%, Phú Đồng 78%).
  2. Khai thác củi: 26/30 hộ (86,7%) sử dụng củi làm chất đốt hàng ngày nấu ăn cho người và nấu thức ăn gia súc.
  3. Chăn thả gia súc: 19/30 hộ (63,3%) chăn thả rông gia súc trong rừng (Ba na có 12 hộ, đàn 4–33 con, trung bình 10 con/hộ; Chăm H’roi có 7 hộ, đàn 3–18 con, trung bình 5 con/hộ), làm gãy đổ cây bụi và dẫm đạp cây gỗ tái sinh.
  4. Săn bắt động vật: 14/30 hộ tham gia (11 hộ Ba na, 3 hộ Chăm H’roi). Thống kê 10 loài bị săn bắt bằng bẫy hoặc súng tự chế. Có 6 loài bị săn bắt chủ yếu để bán (tỷ lệ bán 70–100%): Mèo rừng (bán 100%), Cheo (bán 90%), Heo rừng (bán 90%), Chồn (bán 80%), Rắn các loại (bán 80%, rắn hổ mang bành giá 120.000 đ/kg, rắn ráo 30.000 đ/kg), Dúi (bán 70%). Bốn loài săn bắt phục vụ tự tiêu thụ là gà rừng (90%), sóc (60%), chim các loại (50%), chuột (40%).
  5. Khai thác rau ăn và củ quả rừng: 18/30 hộ tham gia. Tác giả lập danh lục 11 loài thực vật bị khai thác tại rừng tự nhiên: Măng rừng (Bambusa spp.), Đọt mây (Arecaceae), Xương sâm (Tiliacora triandra), Rau ngót rừng (Melientha suavis), Dâu gia rừng (Baccaurea sapida), Nấm hương (Lentinula edodes), Nấm mèo (Auricularia auricula-judae), Hoa chuối rừng (Musa uranoscopos), Khổ qua rừng (Momordica charantia), Chuối rừng (Musa acuminata), Gừng (Zingiber officinale). Bình quân mỗi hộ sử dụng 1 cây chuối rừng/ngày để nấu cám lợn.
  6. Khai thác cây thuốc: 15/30 hộ tham gia. Mỗi thôn có khoảng 1 thầy lang bốc thuốc nam. Ghi nhận 15 loài cây thuốc được thu hái tự nhiên: Mật nhân (trị bệnh gan, bệnh ngoài da), Bông bay (trị kiết lỵ, cầm máu), Dây dun (tiêu hóa), Cỏ tranh (giải nhiệt), Dây giằng (bổ máu sau sinh), Cườm thảo/Ahpkunh (trị ho), Khổ qua rừng (tiểu đường), Ngũ trẩu (đau lưng, nhức mỏi), Ngải cứu (động thai), Ổi rừng (kiết lỵ), Chó đẻ (viêm gan B), Ích mẫu (phụ nữ sau sinh), Lạc tiên (mất ngủ), Cỏ mực (rôm sảy), Mắc cỡ (đau nhức xương khớp).
  7. Khai thác cây cảnh: 14/30 hộ tham gia khai thác các loài phong lan, si rừng, sanh rừng, mai rừng, tuế mang bán cho thị trường ngoài huyện để có thêm thu nhập.

Kết quả đánh giá 3 tuyến điều tra thực địa theo thang điểm 0–3 ghi nhận: điểm trung bình chặt cây là 1,78; dấu vết vật nuôi là 1,44; dấu vết con người là 1,69. Quy đổi mức tác động chung của cả 3 tuyến đều ở mức 2 (tác động vừa), với quy luật tác động giảm dần khi đi sâu vào rừng phòng hộ.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa mức độ tác động và sự tham gia của các hộ đồng bào dân tộc vào tài nguyên rừng phòng hộ Đồng Xuân, được tổng hợp qua bảng số liệu sau:

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp Tỷ lệ hộ Ba na tham gia (%) Tỷ lệ hộ Chăm H’roi tham gia (%) Đặc điểm khai thác / Mục đích chính
Khai thác gỗ 60,0% 20,0% Làm nhà ở, chuồng gia súc, hàng rào; bán lẻ
Khai thác củi 60,0% 26,7% 86,7% số hộ dùng làm chất đốt đun nấu sinh hoạt
Lâm sản ngoài gỗ (rau, măng) 36,7% 23,3% Đào măng, đọt mây; dùng 1 cây chuối rừng/hộ/ngày
Chăn thả gia súc trong rừng 40,0% 23,3% Thả rông trâu bò (Ba na: 10 con/hộ; Chăm: 5 con/hộ)
Săn bắt động vật rừng 36,7% 10,0% Săn 10 loài; 6 loài săn để bán chiếm 70–100%
Khai thác cây thuốc 33,3% 16,7% Thu hái 15 loài cây chữa bệnh thông thường
Khai thác cây cảnh 33,3% 13,3% Khai thác phong lan, si, sanh, tuế bán thương mại

Tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến rừng:

  1. Giải pháp chính sách: Khẩn trương xây dựng phương án giao khoán quản lý bảo vệ rừng gắn với nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) hiện có của Ban quản lý trực tiếp cho các hộ dân; lồng ghép các chính sách hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc theo Chương trình 134, Chương trình 135.
  2. Giải pháp kỹ thuật: Hướng dẫn áp dụng các mô hình canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc bền vững (mô hình SALT 1, SALT 2, SALT 3); chuyển đổi nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng sản xuất bằng các loài Keo lá tràm, Dầu rái; áp dụng dự án trồng rừng thay thế nương rẫy.
  3. Giải pháp kinh tế: Tạo việc làm thay thế cho lực lượng thanh niên trong độ tuổi lao động (nhóm 16–25 và 25–50 tuổi) lúc nông nhàn; hỗ trợ vốn vay sản xuất thâm canh lúa nước và cây màu để giải quyết tình trạng đói giáp hạt; phát triển chăn nuôi bò nhốt chuồng thay thế thả rông.
  4. Giải pháp quản lý rừng phòng hộ: Tăng cường lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng chuyên trách; đầu tư kinh phí tuần tra, trang thiết bị; siết chặt kiểm tra 7 cơ sở xưởng mộc chế biến gỗ ven rừng; phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý, Hạt Kiểm lâm Đồng Xuân và Ủy ban nhân dân xã Phú Mỡ trong xử lý triệt để các vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy.

Đóng góp mới của khóa luận: Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên tại huyện Đồng Xuân tiến hành đánh giá thực nghiệm có định lượng về mức độ xâm hại tài nguyên rừng của từng thành phần dân tộc bản địa. Nghiên cứu đã cung cấp bộ dữ liệu thực địa cập nhật về cơ cấu hộ nghèo, 7 hình thức khai thác tài nguyên, thống kê 254 vụ vi phạm lâm luật và lập danh mục phân loại chi tiết các loài động vật hoang dã, cây thực phẩm và cây thuốc nam bản địa tại xã Phú Mỡ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện được văn bản đề cập:

  • Dung lượng mẫu phỏng vấn xã hội học nông thôn còn nhỏ ($n = 30$ hộ), chưa bao quát toàn bộ 768 hộ của xã Phú Mỡ và chưa thực hiện phỏng vấn tại xã Xuân Lãnh (mặc dù Ban quản lý có 514,3 ha lâm phần tại Xuân Lãnh).
  • Thời gian khảo sát thực địa ngắn (chỉ kéo dài trong 3 tháng, từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020), rơi hoàn toàn vào mùa khô nên chưa quan sát và so sánh được biến động tác động rừng giữa mùa mưa và mùa khô.
  • Các bài thuốc dân gian của đồng bào Ba na và Chăm H’roi chữa các bệnh nan y (viêm gan B, hen suyễn, bài thuốc phụ nữ sau sinh) có tính bí truyền gia đình, tác giả không thể tiếp cận nghiên cứu sâu về thành phần dược liệu và liều lượng phối ngũ.
  • Nghiên cứu chưa định lượng được trữ lượng sinh khối gỗ và lâm sản ngoài gỗ bị suy giảm cụ thể theo từng năm trên các tuyến điều tra.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng dung lượng mẫu điều tra xã hội học và khảo sát thực địa trên toàn bộ lâm phần thuộc hai xã Phú Mỡ và Xuân Lãnh.
  • Ứng dụng công nghệ Hệ thống thông tin địa lý (GIS) kết hợp giải đoán ảnh viễn thám đa thời gian để giám sát biến động lớp phủ rừng và đo đếm trữ lượng sinh khối rừng tự nhiên bị suy thoái.
  • Nghiên cứu thiết kế cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp cộng đồng thôn bản và đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình nông lâm kết hợp SALT áp dụng thí điểm tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Quản lý tài nguyên và môi trường, Phát triển nông thôn.
  • Cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân, Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân trong việc xây dựng phương án giao khoán bảo vệ rừng, phân bổ kinh phí dịch vụ môi trường rừng và tổ chức các chốt chặn kiểm soát lâm sản tại xã Phú Mỡ.
  • Chính quyền địa phương xã Phú Mỡ và huyện Đồng Xuân trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội, giải quyết đất sản xuất cho các hộ dân bị thu hồi đất do xây dựng các công trình hạ tầng, thủy điện.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận:

  • Bảng tổng hợp số liệu 254 vụ vi phạm tài nguyên rừng giai đoạn 2015–2019 và cơ cấu loại hình vi phạm tại xã Phú Mỡ.
  • Phương pháp thiết kế và đánh giá định lượng 3 tuyến điều tra thực địa theo các tiêu chí chặt cây, dấu vết vật nuôi và tác động của con người kèm tọa độ GPS chuẩn xác.
  • Bảng danh mục khoa học gồm 11 loài thực vật làm rau ăn/thức ăn gia súc, 15 loài cây thuốc nam dân gian và tỷ lệ khai thác/buôn bán 10 loài động vật rừng hoang dã.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình vi phạm tài nguyên rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân giai đoạn 2015–2019 diễn biến ra sao?
Toàn bộ 100% số vụ vi phạm (tổng số 254 vụ) đều xảy ra trên địa bàn xã Phú Mỡ. Trong đó, hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, chế biến lâm sản trái phép chiếm nhiều nhất với 104 vụ; khai thác rừng trái phép có 95 vụ; phá rừng có 34 vụ; vi phạm quy định bảo vệ rừng có 13 vụ; vi phạm PCCCR gây cháy rừng có 7 vụ; và vi phạm bảo vệ động vật rừng có 1 vụ. Diện tích rừng bị phá tăng vọt từ 0,796 ha (năm 2016) lên 20,6003 ha (năm 2017) và đạt đỉnh điểm 157,8697 ha (năm 2018).

2. Mức độ tác động vào tài nguyên rừng có sự khác biệt như thế nào giữa dân tộc Ba na và Chăm H’roi?
Người Ba na sinh sống gần rừng hơn nên tác động mang tính trực tiếp và chiếm tỷ lệ tham gia áp đảo trong mọi hoạt động: 60% hộ khai thác gỗ, 60% khai thác củi, 40% chăn thả gia súc, 36,7% săn bắt động vật, 36,7% hái lâm sản ngoài gỗ. Ngược lại, người Chăm H’roi sống xa rừng hơn nên tỷ lệ tham gia trực tiếp thấp hơn (20% khai thác gỗ, 26,7% lấy củi, 10% săn bắt); tác động của cộng đồng Chăm H’roi chủ yếu mang tính gián tiếp thông qua việc buôn bán, tiêu thụ các sản phẩm lâm sản do người Ba na khai thác.

3. Nhóm tuổi và giới tính nào có cường độ tác động lớn nhất đến rừng phòng hộ Đồng Xuân?
Về giới tính, nam giới chiếm đa số với 83,33% (25/30 người) do các công việc nặng nhọc như đốn gỗ, săn thú, lấy mật ong; nữ giới chiếm 16,67% chủ yếu đi lấy rau măng và cây thuốc. Về độ tuổi, nhóm lao động chính từ 25–50 tuổi tác động mạnh nhất, chiếm tỷ lệ tham gia bình quân 52,57% trên tất cả các hoạt động khai thác tài nguyên (chiếm 54,17% lao động đốn gỗ và 60% lao động săn bắt động vật).

4. Mục đích săn bắt và tiêu thụ động vật hoang dã của cư dân tại xã Phú Mỡ như thế nào?
Khảo sát 10 loài động vật bị săn bắt cho thấy có 6 loài bị săn bắt chủ yếu để bán kiếm thu nhập với tỷ lệ bán từ 70% đến 100%: Mèo rừng (bán 100%), Cheo (bán 90%), Heo rừng (bán 90%), Chồn (bán 80%), các loài Rắn (bán 80%), Dúi (bán 70%). Bốn loài còn lại chủ yếu phục vụ nhu cầu làm thực phẩm tại chỗ cho gia đình là gà rừng (sử dụng 90%), sóc (sử dụng 60%), chim các loại (sử dụng 50%) và chuột (sử dụng 40%).

5. Kết quả đánh giá trên 3 tuyến điều tra thực địa tại xã Phú Mỡ ghi nhận điểm số tác động ra sao?
Tại 3 tuyến khảo sát (thôn Phú Tiến, Phú Giang và Phú Lợi), điểm đánh giá trung bình theo thang điểm từ 0 đến 3 ghi nhận: tác động chặt cây là 1,78 điểm; dấu vết vật nuôi thả rông là 1,44 điểm; dấu vết con người (đốt, phát quang) là 1,69 điểm. Toàn bộ 3 tuyến đều được xếp ở mức tác động 2 (mức tác động vừa), với quy luật chung là các dấu vết chặt phá và thả rông trâu bò tập trung dày đặc ở đầu và giữa tuyến, giảm dần khi tiến sâu vào rừng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ông Tú Minh đã phản ánh bức tranh chân thực và toàn diện về sức ép sinh kế của cộng đồng bản địa Ba na và Chăm H’roi lên hệ sinh thái Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Bằng các số liệu khảo sát xã hội học và điều tra tuyến thực địa có tọa độ rõ ràng, công trình đã lượng hóa được 7 hình thức xâm hại tài nguyên cùng cơ cấu 254 vụ vi phạm lâm luật tại xã Phú Mỡ. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc tháo gỡ mâu thuẫn giữa bảo tồn và sinh kế đòi hỏi phải nhanh chóng triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đẩy mạnh mô hình nông lâm kết hợp SALT và tăng cường năng lực quản lý bảo vệ rừng tại cơ sở.