Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên thiên vô cùng quý giá, là một phần không thể thiếu của môi trƣờng sinh thái, rừng là lá phổi xanh của nhân loại, không những thế nó còn giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống nhân, là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các yếu tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nƣớc và làm giảm ô nhiễm không khí. Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay đƣợc coi là một nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Một trong những đòi hỏi để thực hiện thành công nhiệm vụ này là phải có những cơ chế thích hợp thu hút sự tham gia của cộng đồng dân vào công tác quản lý và bảo vệ rừng. Tỉnh Phú Yên quản lý gần 110.000 ha rừng, chiếm 21,6% diện tích đất tự nhiên.
Huyện miền núi Ðồng Xuân là địa bàn có diện tích rừng phòng hộ lớn nhất với 24.000 ha, trong đó hơn 400 ha rừng trồng, chủ yếu tập trung ở Phú Mỡ. Tuy nhiên, tình hình khai thác và tác động của ngƣời dân vào rừng vẫn còn nhiều, không chỉ ngƣời dân ở trong khu bảo tồn mà còn có nhiều cộng đồng dân cƣ sống ở vùng đệm của khu bảo tồn cũng có những tác động không nhỏ làm ảnh hƣởng xấu đến tài nguyên rừng. Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân tỉnh Phú Yên nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Yên, đƣợc thành lập theo Quyết định số 1892/QĐ-UBND ngày 21/11/2008 của UBND tỉnh Phú Yên, với tổng diện tích quy hoạch sử dụng 22.133 ha, trong đó quy hoạch diện tích đất rừng phòng hộ 17.473,9 ha (chiếm tỉ lệ 78,9 %), đất rừng sản xuất là 4. Bana và Chăm H’roi là dân tộc bản địa đang sinh sống tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên cuộc sống hằng ngày luôn gắn bó với rừng và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần đối với ngƣời dân nơi đây.
1 Nhƣng trong những năm gần đây tình hình công tác quản lý bảo vệ rừng ở huyện Đồng Xuân phát sinh nhiều vấn đề nổi cộm cần phải giải quyết trƣớc mắt và lâu dài, nhất là diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm về số lƣợng và chất lƣợng, nguyên nhân chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số lấn chiếm đất lâm nghiệp, chặt phá rừng làm rẫy trái phép, khai thác lâm sản trái phép, nạn đào bới đất rừng tìm trầm, phá rừng và phát dọn trái phép thực bì trên địa bàn xã Phú Mỡ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến tài nguyên rừng ở địa phƣơng, cho nên công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững mang tính cấp thiết hiện nay. Đồng thời đƣa ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc địa phƣơng góp phần phát triển bền vững tài nguyên rừng, cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp nhằm lôi cuốn ngƣời dân tham gia vào quản lý bảo vệ rừng đồng thời góp phần nâng cao đời sống của ngƣời dân. Từ những vấn đề thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài “ Đánh giá tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân tỉnh Phú yên”. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu tổng quát Khóa luận nghiên cứu nhằm xác định đƣợc hình thức và mức độ tác động của ngƣời dân địa phƣơng đến tài nguyên rừng từ đó góp phần đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, phát triển rừng tại huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên. Mục tiêu cụ thể Xác định và đánh giá đƣợc các hình thức và mức độ tác động của ngƣời dân đến tài nguyên rừng. Xác định nguyên nhân chính dẫn đến những tác động bất lợi của ngƣời dân địa phƣơng đến tài nguyên rừng. Đề xuất đƣợc các giải pháp giảm sức ép lên tài nguyên rừng và thu hút ngƣời dân tham gia vào quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên rừng.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trƣờng, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con ngƣời nhƣ: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nƣớc, nơi cƣ trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm. Mặc dù rừng đóng vai trò to lớn trong cuộc sống con ngƣời, động thực vật và sự sống nhƣng nguồn tài nguyên rừng ngày nay đang suy thoái nghiêm trọng vì rất nhiều nguyên nhân, trong đó tác động của con ngƣời đến tài nguyên rừng là nguyên nhân lớn nhất. Một số nguyên nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng do tác động của con ngƣời đến tài nguyên rừng nhƣ: - Nguyên nhân trực tiếp: Chuyển và xâm lấn đất rừng tự nhiên sang sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên gỗ tài nguyên động thực vật quá mức, đốt dọn thực bì làm nƣơng rẫy gây cháy rừng, chuyển đồi rừng tự nhiên nghèo sang rừng trồng kinh tế, … - Nguyên nhân gián tiếp: Tăng dân số (Khiến ngƣời dân không còn chỗ ở, phải lấn chiếm đất rừng để sinh sống), quản lý yếu kém của địa phƣơng và công ty lâm nghiệp (Tiếp tay cho lâm tặc, ngƣời dân phá rừng hoặc hình phạt chƣa thích đáng), thiếu kinh phí bảo vệ rừng, giá nông sản tăng cao (Nhu cầu phá rừng làm nƣơng rẫy của ngƣời dân cũng tăng),… Hiện nay để duy trì và phát triển nguồn tài nguyên này con ngƣời cần không ngừng nỗ lực để bảo vệ phát triển rừng, con ngƣời và rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển. Đặc biệt sự tác động của con ngƣời có ý nghĩa to lớn quyết định tới rừng.
Để đánh giá một cách đúng đắn vấn đề, ngƣời ta đã tiến 3 hành nhiều cuộc nghiên cứu điều tra trên nhiều góc độ về sự ảnh hƣởng của con ngƣời tới các khu rừng ở nhiều nơi trên thế giới. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tổng diện tích rừng của thế giới bị mất đi hàng năm là 20 triệu ha. Trong đó diện tích rừng bị lấy gỗ là 45.000 ha/năm, rừng lấy củi là 25.000 ha/năm, rừng chăn thả gia súc là 20.000 ha/năm, rừng khai hoang và làm rẫy 160. CIFOR (Centrer for Internationl Forestry Resarch) thành lập năm 1993, trụ sở chính tại Bogor, Indonesia với hoạt động chính là hƣớng tới một thế giới mà ở đó rừng đƣợc trú trọng trong các định hƣớng chính sách, và con ngƣời nhận thức đƣợc giá trị thực sự của rừng trong việc bảo đảm sinh kế và các dịch vụ từ rừng Trong 30 năm (1960- 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km2 xuống 32 triệu km2, với tốc độ giảm bình quân 160.
Sự mất rừng lớn nhất xảy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000km2 trong suốt hơn 20 năm. Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70%. Châu Á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất, khoảng 70% ( Dẫn theo Hƣơng Thảo, 2010). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến làm mất rừng trên thế giới, tập trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân nhƣ: mở rộng diện tích đất nông nghiệp, thu chặt củi, chăn thả gia súc, khai thác gỗ và các lâm sản từ rừng., Cụ thể: Ở Châu Mỹ La Tinh, có khoảng 35% rừng bị chặt phá do những ngƣời sản xuất nông nghiệp, phần còn lại do chăn thả gia súc.
Ở Malaisia, rừng nguyên sinh che phủ gần nhƣ toàn bộ đất nƣớc vào năm 1990, đến năm 1960 đã có trên 1/2 diện tích rừng bị khai thác gỗ cho xuất khẩu. Còn ở Philippine, đến năm 1980 rừng đã bị phá hủy khoảng 2/3 diện tích, trong đó khai thác gỗ cho xuất khẩu chiếm một phần lớn. Ở Bănglađes, vấn đề xây dựng chiến lƣợc, thể chế với sự trợ giúp của lâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967. Những vấn đề pháp lý không tìm đƣợc câu trả lời nhƣ quyền chiếm hữu không chắc chắn và mâu thuẫn 4 giữa tƣ nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những ngƣời sống về đất, những ngƣời thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học.
Ở Pakistan và Srilanka, công nghệ viễn thám đƣợc kết hợp với đo đếm hiện trƣờng. Ở Kenia, phƣơng pháp đƣợc ƣa thích là quy trình mẫu 2 giai đoạn: ảnh hàng không đƣợc sử dụng ở giai đoạn 1 và đo đếm hiện trƣờng ở giai đoạn 2. Việc kết hợp giữa công nghệ viễn thám và GIS với điều tra hiện trƣờng tỏ ra là sự lựa chọn tốt nhất. Ở một số nƣớc đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu nhằm đƣa mối quan hệ giữa con ngƣời lên một mức độ khác.
Qua đó con ngƣời có những tác động tích cực vào rừng đem lại hiệu quả về mặt quản lí, rừng không bị suy giảm, con ngƣời đƣợc hƣởng lợi nhiều từ rừng. Trong các chƣơng trình các nƣớc quy định quyền sử dụng đất của ngƣời dân. Tại Ấn Độ, nhà nƣớc chỉ giao đất không có rừng cho các cộng đồng địa phƣơng, đất Lâm nghiệp do nhà nƣớc quản lý hoặc theo hình thức cộng quản. Hiện nay Philippines, Thái Lan, Trung Quốc đã cấp giấy phép sử dụng đất cho các cá nhân theo các chƣơng trình lâm nghiệp xã hội.
Các tổ chức hợp tác bảo vệ rừng nhƣ chƣơng trình hợp tác của TFAP (Tropical Forestry Action Plan), kế hoạch hành động bảo vệ rừng nhiệt đới và ITTA, Hiệp ƣớc quốc tế về gỗ nhiệt đới.