Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đào Thị Hà (chuyên ngành Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của GS. Phạm Văn Cường) được thực hiện trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với nhiều biến động. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được trích dẫn trong văn bản, tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm của cả nước ước đạt 7,72 triệu ha với năng suất bình quân 55,5 tạ/ha. Sự gia tăng dân số, biến đổi khí hậu toàn cầu, hiện tượng thời tiết cực đoan và xâm nhập mặn kéo dài đã tác động tiêu cực đến diện tích canh tác cũng như chất lượng lúa gạo. Để thích ứng, việc nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa mới ngắn ngày, năng suất cao, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi và đáp ứng tiêu chuẩn tiêu dùng nội địa lẫn xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết.
Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh, thời vụ gieo cấy là yếu tố tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển, mức độ phát sinh sâu bệnh hại và năng suất hạt. Giống lúa DCG66 là giống lúa thuần do Học viện Nông nghiệp Việt Nam hợp tác với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) nghiên cứu chọn tạo trên nền di truyền của giống IR24 mang đoạn nhiễm sắc thể của giống Asominori. Nhằm làm rõ phản ứng của giống lúa mới này với các khung thời vụ khác nhau, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa DCG66 và một số giống lúa triển vọng tại Gia Lâm – Hà Nội trong vụ xuân 2021" đã được triển khai.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản bao gồm:
- Xác định thời vụ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của giống lúa DCG66 và hai giống đối chứng Khang dân 18 (KD18), IR24 để đạt năng suất cũng như chất lượng tốt trong điều kiện sinh thái vụ xuân tại Gia Lâm, Hà Nội.
- So sánh khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng của các dòng, giống lúa thí nghiệm.
- Chọn ra dòng, giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích hợp với sinh thái khí hậu vùng để phục vụ sản xuất.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu gồm 4 nội dung đánh số theo văn bản:
- Xác định ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống lúa DCG66 và các giống lúa đối chứng.
- Xác định ảnh hưởng của thời vụ tới một số chỉ tiêu sinh lý của giống lúa DCG66 và các giống lúa đối chứng.
- Xác định ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất đối với giống lúa DCG66 và các giống lúa đối chứng.
- Xác định ảnh hưởng của thời vụ đến tình hình sâu bệnh hại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Cây lúa, gồm giống lúa thuần DCG66 và 2 giống đối chứng là Khang dân 18 (KD18) và IR24. Giống DCG66 đã được cấp Quyết định lưu hành số 141/QĐ-TTCLT ngày 16/6/2021 của Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm đồng ruộng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Vụ xuân năm 2021 (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2021).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên tổng quan lịch sử tiến hóa, phân loại loài lúa (Oryza sativa L.), các nghiên cứu về giống lúa ngắn ngày và cơ chế hình thành năng suất. Tác giả viện dẫn các công trình kinh điển của Sampath và Rao (1951), Ting (1933), Chang (1976), Bùi Huy Đáp (1980, 1981, 1999) về nguồn gốc lúa trồng Châu Á và đặc tính nông học của các dòng lúa cổ truyền lẫn hiện đại; lý thuyết quang hợp C3 (Ishii và cộng sự, 1977; Yoshida, 1979; Phạm Văn Cường và cộng sự, 2003) khẳng định 80-90% chất khô tích lũy là do quang hợp; nghiên cứu của Đinh Văn Lữ (1978), Đào Thế Tuấn (1980) và Nguyễn Văn Hoan (2000) xác định vai trò của số bông/m² đóng góp 74% vào năng suất, trong khi số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt đóng góp 26%. Đồng thời, khóa luận tổng kết kỹ thuật sản xuất hạt siêu nguyên chủng, nguyên chủng qua các thế hệ G0, G1 và các nghiên cứu về tác động của thời vụ, thổ nhưỡng (Hirokadzu Taira, 1995; Komoda, 1938; Hirano, 1960).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo sơ đồ khối hai nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại:
- Nhân tố A (Thời vụ): Gồm 3 thời vụ gieo cấy (TV1, TV2, TV3).
- Nhân tố B (Giống): Gồm 3 giống lúa (G1: DCG66, G2: KD18, G3: IR24).
- Quy mô thí nghiệm: 9 công thức tổ hợp (3 thời vụ × 3 giống), bố trí 27 ô thí nghiệm. Diện tích mỗi ô là 11 m², tổng diện tích khu thí nghiệm là 308 m² (bao gồm 28 ô tính cả dải bảo vệ). Mật độ cấy quy chuẩn: 40 khóm/m² (khoảng cách hàng cách hàng 25 cm, cây cách cây 10 cm), cấy 1 dảnh/khóm.
Biện pháp kỹ thuật và mức phân bón áp dụng đồng bộ trên quy mô tính cho 11 m² và quy đổi trên 1 ha:
- Tổng lượng bón nguyên chất: 90 kg N + 90 kg P₂O₅ + 67 kg K₂O/ha.
- Chủng loại phân bón: Urê (46% N), Supe lân (16% P₂O₅), Kaliclorua (60% K₂O).
- Phân kỳ bón:
- Bón lót (trước cấy 1 ngày): 100% P₂O₅ + 50% N + 40% K₂O (tương ứng 0,62 kg lân; 0,11 kg urê; 0,068 kg kali cho 11 m²).
- Bón thúc lần 1 (sau cấy 5-7 ngày): 30% N + 20% K₂O (tương ứng 0,066 kg urê; 0,034 kg kali cho 11 m²).
- Bón thúc lần 2 (trước trỗ 15 ngày): 20% N + 40% K₂O (tương ứng 0,044 kg urê; 0,068 kg kali cho 11 m²).
Phương pháp theo dõi và nguồn dữ liệu:
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Theo dõi định kỳ 2 tuần/lần trên 10 khóm cố định/ô theo đường chéo (thời gian qua các giai đoạn, động thái tăng trưởng số lá, động thái tăng trưởng chiều cao cây từ mặt đất đến mút lá dài nhất hoặc chóp bông, động thái đẻ nhánh).
- Chỉ tiêu sinh lý: Thu mẫu 3 khóm/ô tại 3 điểm theo đường chéo ở các giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu, trỗ và chín sáp. Đo chỉ số diện tích lá (LAI, m² lá/m² đất) bằng phương pháp cân nhanh; lượng chất khô tích lũy (g/m² đất) bằng cách sấy mẫu ở 80°C đến khối lượng không đổi; tốc độ tích lũy chất khô tính theo công thức TĐTLCK = (P₂ - P₁) / t; hàm lượng diệp lục đo bằng máy đo chỉ số SPAD.
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: Theo dõi các đối tượng sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh bạc lá, đạo ôn, khô vằn và đánh giá phân cấp theo thang điểm chuẩn từ 1 đến 9 của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI, 1996).
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA), phần mềm chuyên dụng IRRISTART 5.0 và Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Đặt vấn đề, mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu
Nội dung chương mở đầu tập trung phân tích thực trạng sản xuất lúa gạo trong nước và quốc tế trước áp lực an ninh lương thực và biến đổi khí hậu. Tác giả giới thiệu giống lúa thuần DCG66 – kết quả hợp tác nghiên cứu chọn tạo giữa Học viện Nông nghiệp Việt Nam và JICA từ tổ hợp lai IR24/Asominori, mang các đặc tính nông học nổi trội như thân cứng, dạng hình gọn, số hạt trên bông nhiều và có gen kháng bạc lá. Chương này xác định rõ mục đích tìm kiếm thời vụ gieo cấy tối ưu tại huyện Gia Lâm (Hà Nội) trong vụ xuân 2021 thông qua việc theo dõi toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý, sâu bệnh và cấu thành năng suất so với hai giống đối chứng KD18 và IR24.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học về cây lúa trên các phương diện:
- Lịch sử tiến hóa, phân bố địa lý của loài Oryza sativa và các nguồn gen lúa hoang dại tại Việt Nam; phân tích biến động thị trường lúa gạo thế giới năm 2020 chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 (sản lượng toàn cầu đạt 508,4 triệu tấn, tiêu thụ 510,3 triệu tấn theo FAO); tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2020 đạt 6,15 triệu tấn, trị giá 3,07 tỷ USD và triển vọng từ Hiệp định EVFTA.
- Đặc tính nông học và sinh lý của các giống lúa ngắn ngày: Thời gian sinh trưởng lý tưởng (90-100 ngày), chiều cao cây và tính chống đổ, quy luật đẻ nhánh, chỉ số diện tích lá (LAI), cơ chế quang hợp C3 và tích lũy chất khô sau trỗ.
- Mối quan hệ giữa ba yếu tố cấu thành năng suất (số bông/m², số hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt) và kỹ thuật thâm canh điều chỉnh thế cân bằng dinh dưỡng.
- Quy trình kỹ thuật chọn lọc, sản xuất hạt giống siêu nguyên chủng và nguyên chủng ở vụ thứ nhất (G0) và vụ thứ hai (G1) theo các chỉ tiêu thống kê sinh học (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn $s$).
- Tổng hợp các kết quả nghiên cứu quốc tế và trong nước về ảnh hưởng của thời vụ và điều kiện đất đai (đất than bùn, đất trũng ngộ độc sắt gây bệnh "Akiochi", đất cạn) đến hàm lượng acid béo, nhiệt độ hóa hồ, hàm lượng protein và amylose trong hạt gạo.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết địa điểm, thời gian, vật liệu và phương pháp bố trí thí nghiệm 2 nhân tố (3 thời vụ × 3 giống) với 27 ô thí nghiệm tại Gia Lâm. Chương này cụ thể hóa quy trình ngâm ủ, làm đất gieo mạ, kỹ thuật cấy 1 dảnh/khóm mật độ 40 khóm/m² và quy trình bón phân cân đối 90 N : 90 P₂O₅ : 67 K₂O (kg/ha). Đồng thời, tác giả mô tả chi tiết phương pháp lấy mẫu, công thức tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý (LAI, sấy khô 80°C, đo SPAD), thang điểm 1-9 của IRRI (1996) để đánh giá mức độ hại của sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh bạc lá, đạo ôn, khô vằn, cùng quy trình tính năng suất lý thuyết và năng suất thực thu ở độ ẩm tiêu chuẩn 13%.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ các dẫn liệu thực nghiệm thu thập được trong vụ xuân 2021 thông qua các bảng số liệu phân tích:
Thời gian sinh trưởng qua các thời vụ:
Đầu vụ xuân 2021 gặp rét kéo dài làm kéo dài thời gian mạ và hồi xanh ở thời vụ 1 (TV1). Thời vụ 2 (TV2) thời tiết ấm dần giúp cây lúa sinh trưởng thuận lợi. Thời vụ 3 (TV3) sử dụng mạ khay nên thời gian từ cấy đến đẻ nhánh kéo dài 20 ngày, nhưng tổng thời gian sinh trưởng lại ngắn nhất.
| Thời vụ |
Giống |
Tuổi mạ (ngày) |
Bắt đầu đẻ nhánh (ngày sau cấy) |
Kết thúc đẻ nhánh (ngày sau cấy) |
Thời kỳ trỗ (ngày) |
Thời kỳ chín (ngày) |
Tổng TGST (ngày) |
| TV1 |
DCG66 |
20 |
17 |
54 |
9 |
31 |
131 |
|
KD18 |
20 |
17 |
56 |
10 |
32 |
135 |
|
IR24 |
20 |
17 |
58 |
8 |
31 |
134 |
| TV2 |
DCG66 |
21 |
12 |
54 |
6 |
34 |
126 |
|
KD18 |
21 |
12 |
53 |
7 |
35 |
128 |
|
IR24 |
21 |
12 |
54 |
7 |
35 |
129 |
| TV3 |
DCG66 |
19 |
20 |
41 |
6 |
29 |
115 |
|
KD18 |
19 |
20 |
41 |
10 |
30 |
120 |
|
IR24 |
19 |
20 |
41 |
11 |
30 |
121 |
Động thái tăng trưởng số lá trên thân chính:
Tốc độ ra lá tăng nhanh từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 10 sau cấy. Đến tuần thứ 12, số lá cuối cùng đạt giá trị tối đa và dừng lại khi cây chuyển sang nuôi đòng.
| Thời vụ |
Giống |
Sau 2 tuần |
Sau 4 tuần |
Sau 6 tuần |
Sau 8 tuần |
Sau 10 tuần |
Số lá cuối |
| TV1 |
KD18 |
4,1 |
5,6 |
7,6 |
10,4 |
13,6 |
14,1 |
|
DCG66 |
4,5 |
6,1 |
8,6 |
12,6 |
13,6 |
14,3 |
|
IR24 |
4,4 |
6,0 |
7,3 |
10,3 |
13,4 |
13,9 |
| TV2 |
KD18 |
4,1 |
5,7 |
6,7 |
11,9 |
14,1 |
14,5 |
|
DCG66 |
4,0 |
5,6 |
7,6 |
11,7 |
13,6 |
14,2 |
|
IR24 |
4,5 |
6,1 |
8,6 |
10,2 |
14,1 |
15,0 |
| TV3 |
KD18 |
3,4 |
6,0 |
6,7 |
7,7 |
11,9 |
12,8 |
|
DCG66 |
3,4 |
6,0 |
7,2 |
9,3 |
14,1 |
15,2 |
|
IR24 |
4,6 |
6,0 |
7,6 |
10,2 |
13,7 |
14,3 |
| Trung bình |
|
4,5 |
5,9 |
7,5 |
10,4 |
13,5 |
14,25 |
Động thái đẻ nhánh của các giống lúa qua các thời vụ (nhánh/khóm):
Giai đoạn đẻ nhánh tập trung diễn ra mạnh nhất trong khoảng 4 đến 8 tuần sau cấy, sau đó tốc độ đẻ nhánh giảm dần và ổn định ở tuần thứ 10.
| Thời vụ |
Giống |
Sau 2 tuần |
Sau 4 tuần |
Sau 6 tuần |
Sau 8 tuần |
Sau 10 tuần |
| TV1 |
KD18 |
1,3 |
2,7 |
5,1 |
7,2 |
7,2 |
|
DCG66 |
1,7 |
3,8 |
5,06 |
7,0 |
7,1 |
|
IR24 |
1,4 |
3,9 |
5,3 |
6,3 |
7,1 |
| TV2 |
KD18 |
1,5 |
2,8 |
3,9 |
7,0 |
7,3 |
|
DCG66 |
1,3 |
2,7 |
5,1 |
7,2 |
7,5 |
|
IR24 |
1,7 |
3,8 |
5,0 |
6,0 |
6,9 |
| TV3 |
KD18 |
1,3 |
3,7 |
4,0 |
5,3 |
6,9 |
|
DCG66 |
1,4 |
2,7 |
5,4 |
5,9 |
6,9 |
|
IR24 |
1,5 |
3,7 |
5,1 |
6,2 |
6,8 |
| Trung bình |
|
1,45 |
3,30 |
4,80 |
6,45 |
7,07 |
Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm):
Chiều cao cây tăng nhanh nhất từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 8 sau cấy do được bón thúc đầy đủ và nhiệt độ tăng dần. Đến tuần thứ 10, chiều cao cây đạt từ 84,4 đến 98,0 cm.
| Thời vụ |
Giống |
Sau 2 tuần |
Sau 4 tuần |
Sau 6 tuần |
Sau 8 tuần |
Sau 10 tuần |
| TV1 |
KD18 |
17,4 |
31,1 |
63,2 |
84,4 |
98,0 |
|
DCG66 |
25,3 |
47,4 |
63,1 |
76,8 |
97,0 |
|
IR24 |
18,9 |
38,3 |
56,5 |
70,5 |
96,5 |
| TV2 |
KD18 |
17,4 |
31,3 |
46,5 |
73,8 |
97,3 |
|
DCG66 |
17,4 |
44,6 |
63,2 |
82,3 |
96,7 |
|
IR24 |
25,3 |
47,4 |
63,1 |
78,9 |
96,0 |
| TV3 |
KD18 |
13,2 |
31,1 |
45,9 |
61,4 |
84,4 |
|
DCG66 |
13,1 |
43,0 |
57,2 |
69,6 |
93,4 |
|
IR24 |
15,2 |
31,07 |
57,6 |
74,4 |
91,5 |
| Trung bình |
|
18,1 |
38,4 |
57,4 |
74,7 |
94,5 |
Các chỉ tiêu sinh lý (LAI, Chất khô tích lũy, Chỉ số SPAD):
- Chỉ số diện tích lá (LAI): Đạt cao nhất ở giai đoạn trỗ, biến động từ 4,2 đến 5,7 m² lá/m² đất, trong đó DCG66 ở TV3 đạt 5,7 và IR24 ở TV1 đạt 5,7. Sang giai đoạn chín sáp, LAI giảm xuống mức trung bình 4,2 do bộ lá bắt đầu ngả vàng.
- Lượng chất khô tích lũy (g/m² đất): Tăng dần từ đẻ nhánh rộ (5,6 – 11,3 g/m²), qua trỗ (13,5 – 28,6 g/m²), chín sáp (16,7 – 28,1 g/m²) và đạt cao nhất ở giai đoạn thu hoạch (17,8 – 31,7 g/m²). Thời vụ 2 cho khối lượng chất khô tích lũy cao hơn so với hai thời vụ còn lại.
- Chỉ số SPAD (hàm lượng diệp lục): Biến động từ 40,1 đến 43,7 ở giai đoạn đẻ nhánh rộ; tăng lên 36,6 đến 45,6 ở giai đoạn trỗ; và đạt 40,2 đến 45,5 ở giai đoạn chín sáp. Giống DCG66 duy trì chỉ số SPAD ở mức cao và tương đối đồng đều qua các thời kỳ (đạt 42,3 – 45,1).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp được các kết quả cụ thể về giống lúa DCG66 và phản ứng với thời vụ trong vụ xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội:
- Về thời gian sinh trưởng: Giống DCG66 có thời gian sinh trưởng biến động từ 115 ngày (ở thời vụ 3) đến 131 ngày (ở thời vụ 1), ngắn hơn giống đối chứng Khang dân 18 từ 4 đến 5 ngày trên cùng một thời vụ gieo cấy. Thời gian trỗ của DCG66 diễn ra nhanh và tập trung nhất, chỉ kéo dài từ 6 đến 7 ngày (nhanh hơn IR24 từ 2 đến 4 ngày).
- Về đặc điểm hình thái và sinh lý: Giống DCG66 phát triển từ 14,2 đến 15,2 lá trên thân chính; khả năng đẻ nhánh đạt từ 6,9 đến 7,5 nhánh/khóm ở tuần thứ 10 sau cấy; chiều cao cây đạt từ 93,4 đến 97,0 cm. Chỉ số diện tích lá (LAI) giai đoạn trỗ đạt từ 5,2 đến 5,7 m² lá/m² đất; hàm lượng diệp lục (SPAD) duy trì ổn định trong khoảng 42,3 đến 45,1; chất khô tích lũy khi thu hoạch đạt từ 22,1 đến 29,7 g/m² đất.
- Khả năng chống chịu: Giống mang đặc tính thân thấp, cứng cây, có khả năng chống đổ tốt và mang gen kháng bệnh bạc lá được di truyền từ tổ hợp lai.
- Kiến nghị và đóng góp của tác giả: Nghiên cứu xác lập cơ sở thực nghiệm khẳng định thời vụ 2 (gieo cấy trong điều kiện thời tiết ấm dần sau rét đầu vụ) giúp giống DCG66 sinh trưởng thuận lợi, tích lũy chất khô cao nhất. Tác giả đề xuất đưa giống DCG66 vào cơ cấu sản xuất lúa thuần chất lượng cao, khuyến khích người dân mở rộng diện tích thâm canh hàng hóa nhằm tăng thu nhập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thể hiện một số giới hạn dựa trên dữ liệu và điều kiện thực nghiệm được ghi nhận trong văn bản:
- Phạm vi nghiên cứu bị giới hạn trong một vụ xuân (năm 2021) và chỉ bố trí tại một địa điểm duy nhất là khu thí nghiệm đồng ruộng của Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Gia Lâm, Hà Nội).
- Điều kiện thời tiết bất thuận đầu vụ rét đậm kéo dài đã làm kéo dài giai đoạn mạ và sinh trưởng sinh dưỡng của thời vụ 1; đồng thời việc sử dụng mạ khay ở thời vụ 3 làm rễ hồi xanh chậm, dẫn đến thời gian từ cấy đến bắt đầu đẻ nhánh kéo dài tới 20 ngày.
- Giai đoạn thu hoạch gặp thời tiết âm u và mưa nhiều, gây ảnh hưởng đến tiến độ chín của bông lúa; việc thu mẫu chất khô ở một số thời kỳ có sự dao động do độ đồng nhất của kích thước mẫu ngoài đồng ruộng.
- Hướng mở tiếp theo: Cần tiếp tục tiến hành khảo nghiệm giống lúa DCG66 qua nhiều mùa vụ (đặc biệt là vụ mùa) và trên các vùng sinh thái đất đai khác nhau để đánh giá toàn diện tính ổn định của năng suất và khả năng thích ứng ngoại cảnh.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận cung cấp các tư liệu có giá trị cho độc giả học thuật:
- Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Di truyền và Chọn giống cây trồng; cán bộ kỹ thuật tại các trung tâm khuyến nông và các viện nghiên cứu phát triển giống cây trồng.
- Nội dung tham khảo trọng tâm:
- Phương pháp bố trí thí nghiệm hai nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên trên đồng ruộng đối với cây lúa nước.
- Quy trình kỹ thuật phân tích các chỉ tiêu sinh lý thực vật chuyên sâu: Kỹ thuật xác định chỉ số diện tích lá (LAI) bằng phương pháp cân nhanh, kỹ thuật sấy sấy mẫu xác định động thái tích lũy chất khô ở nhiệt độ tiêu chuẩn 80°C, và phương pháp sử dụng máy đo chỉ số SPAD đánh giá hàm lượng diệp lục.
- Thang phân cấp đánh giá sâu bệnh hại lúa theo tiêu chuẩn IRRI (1996) và hệ thống công thức thống kê ứng dụng trong chọn giống cây trồng.
- Bộ số liệu thực tế về đặc tính sinh trưởng, hình thái của giống lúa thuần DCG66 (mang nguồn gen IR24/Asominori).
Câu hỏi thường gặp
1. Giống lúa DCG66 có nguồn gốc di truyền như thế nào và được công nhận pháp lý ra sao?
Giống lúa DCG66 được chọn ra từ quần thể phân ly của dòng IAS66 có nền di truyền của giống IR24 mang một đoạn nhiễm sắc thể của giống Asominori, được tạo ra từ tổ hợp lai IR24/Asominori (hợp tác giữa Học viện Nông nghiệp Việt Nam và cơ quan JICA Nhật Bản). Giống được Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp quyết định lưu hành số 141/QĐ-TTCLT ngày 16/6/2021.
2. Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế với mật độ, diện tích và mức phân bón như thế nào?
Thí nghiệm gồm 9 công thức tổ hợp (3 thời vụ × 3 giống), lặp lại 3 lần thành 27 ô thí nghiệm; diện tích mỗi ô là 11 m² (tổng diện tích khu thí nghiệm là 308 m²). Mật độ cấy là 40 khóm/m² (25 cm × 10 cm), cấy 1 dảnh/khóm. Mức phân bón áp dụng là 90 kg N + 90 kg P₂O₅ + 67 kg K₂O/ha (gồm bón lót 100% P₂O₅ + 50% N + 40% K₂O; bón thúc đợt 1 là 30% N + 20% K₂O; bón thúc đợt 2 là 20% N + 40% K₂O).
3. Thời gian sinh trưởng của giống lúa DCG66 thay đổi như thế nào giữa các thời vụ gieo cấy?
Trong vụ xuân 2021, thời gian sinh trưởng của giống DCG66 đạt 131 ngày ở thời vụ 1 (do thời tiết rét đậm đầu vụ), rút ngắn xuống 126 ngày ở thời vụ 2 và đạt 115 ngày ở thời vụ 3. Ở cả 3 thời vụ, DCG66 đều có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống đối chứng KD18 từ 4 đến 5 ngày và có thời gian trỗ ngắn nhất (chỉ 6-7 ngày).
4. Chỉ số diện tích lá (LAI) và lượng chất khô tích lũy của giống DCG66 đạt giá trị bao nhiêu?
Chỉ số LAI của giống DCG66 biến động từ 3,4 – 5,2 m² lá/m² đất ở giai đoạn đẻ nhánh rộ; đạt giá trị cao nhất từ 5,2 – 5,7 m² lá/m² đất ở giai đoạn trỗ; sau đó giảm xuống 4,0 – 4,7 m² lá/m² đất ở giai đoạn chín sáp. Lượng chất khô tích lũy của giống tăng dần qua các thời kỳ và đạt mức từ 22,1 đến 29,7 g/m² đất ở giai đoạn thu hoạch (trong đó thời vụ 2 đạt cao nhất với 29,7 g/m² đất).
5. Vì sao ở thời vụ 3 cây lúa lại bắt đầu đẻ nhánh muộn hơn so với hai thời vụ trước?
Ở thời vụ 3, thời gian từ khi cấy đến khi bắt đầu đẻ nhánh kéo dài tới 20 ngày (trong khi thời vụ 1 là 17 ngày và thời vụ 2 là 12 ngày). Nguyên nhân được văn bản xác định là do thời vụ 3 sử dụng mạ khay trong quá trình gieo cấy, khiến bộ rễ bén hồi xanh chậm hơn so với mạ nhổ truyền thống ở hai thời vụ đầu.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Đào Thị Hà đã hoàn thành việc khảo sát thực nghiệm ảnh hưởng của ba thời vụ gieo cấy đến các chỉ tiêu nông học và sinh lý của giống lúa thuần DCG66 so với hai giống đối chứng KD18 và IR24 trong vụ xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu khẳng định giống DCG66 có thời gian sinh trưởng ngắn (115-131 ngày), dạng hình gọn, thân cứng chống đổ, thời gian trỗ tập trung (6-7 ngày) và tích lũy chất khô tối ưu nhất ở khung thời vụ 2. Các dẫn liệu thu được cung cấp cơ sở thực tiễn để định hướng bố trí thời vụ và kỹ thuật canh tác hợp lý cho giống DCG66 trong sản xuất lúa thuần tại đồng bằng Bắc Bộ.