Đặt vấn đề Ở Việt Nam tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm ước tính đạt 7,72 triệu ha năng suất ước đạt 55,5 tạ/ha (BNN& PTNT) với diện tích và sản lượng gieo trồng như trên thì đây là một con số hết sức khiêm tốn đối với một đất nước có nền nông nghiệp lâu đời và chiếm tỷ trọng cao như nước ta, Trong bối cảnh dân sô trong nước và thế giới không ngừng gia tăng mức sống của người dân không ngừng được nâng cao đi đôi với đó cũng đòi hỏi một số lượng lúa gạo không chỉ lớn về số lượng mà chất lượng cũng không ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu, Từ thực tế trên yêu cầu khải không ngừng ứng dụng tiến bộ khoa khọc kĩ thuật vào thâm canh lúa nước làm cho nghề trồng lúa có những thay đổi tích cực hơn, Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là năng suất và chất lượng lúa. Thời gian gần đây do sự ảnh hưởng tiêu cực của thời tiết trái đất nóng làm biến đổi khí hậu đi cùng với đó là những thiên tai hiện tượng thời tiết cực đoan, xâm nhập mặn xảy ra trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cũng như diện tích trồng lúa của bà con nông dân, Cách duy nhất để khắc phục tình trạng này là phải nghiên cứu trọn tạo các giống lúa cải tiến đưa vào sản xuất, Các giống lúa mới phải cho năng suất cao thời gian sinh trưởng ngắn và đặc bệt là phải thích nghi được với điều kiện thời tiết có nhiều thay đổi như hiện nay Các giống lúa lai có thể đáp ứng được yêu cầu trên và chú trọng đến việc nghiên cứu phân tích các thời gian, giai đoạn và thời kì sinh trưởng để có các định hướng sử dụng lai tạo, cải tiến các giống lúa theo hướng ngẵn ngày Trong những năm qua các nhà khoa học của Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam cùng với quá trình tìm tòi học hỏi những kiến thức và công nghệ tiên tiến trên thế giới áp dụng vào môi trường ở Việt Nam đã chọn lọc, lai tạo ra nhiều giống lúa mới cho thấy sự thay đổi vượt bậc về năng suất, chất lượng cũng như 1 khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất lợi, Các giống lúa phổ biến đã được người dân chấp nhận và đưa vào trong sản xuất đây là cách tiếp cận hợp lý mà những nước có nền nông nghiệp công nghệ cao vẫn thường áp dụng Giống lúa DCG66và hai giống lúa là khang dân 18, IR24 là các giống cho năng suất cao ngắn ngày có gen kháng bác lá, Giống lúa DCG66 là giống lúa thuần do Học Viện Nông Nghiệp hợp tác với cơ quan quốc tế Nhật Bạn (JICA) nghiên cứu chọn tạo trên nền di truyền của giống lúa IR24, Đặc điểm của giống là có thời gian sinh trưởng sinh dưỡng rút ngắn khả năng sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh khỏe, dạng hình gọn thấp cây, cứng cây và có số hạt trên bong nhiều đáp ứng phần nào giống ngắn ngày của người dân. Việc sản xuất giống cần chú ý các biện pháp tác động như bố trí thời vụ gieo, cấy, nước tưới, làm đất , mức độ phân bón …trong đó yếu tố thời vụ là một yếu tố vô cùng quan trọng là yếu tố được ưu tiên nhắc đến đầu tiên trong quá trình sản xuất ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất và chất lượng lúa , Xuất phát từ thực tế và những yêu cầu nói trên tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa DCG66 và một số giống lúa triển vọng tại Gia Lâm –Hà Nội trong vụ xuân 2021” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định thời vụ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của giống lúa DCG66 và 2 giống lúa KD18 và IR24 để đạt năng suất cũng như chất lượng tốt trong điều kiện sinh thái tại vụ xuan trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành Phố Hà Nội - So sánh khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng của các dòng, giống lúa thí nghiệm, - Chọn ra dòng, giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích hợp với sinh thái khí hậu vùng, 2 1.3 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Xác định được thời vụ thách hợp nhất cho giống DCG66 trong điều kiện sinh thái vụ xuân tại Gia Lâm- Hà Nội, 1.2 Yêu cầu - Xác định ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống lúa DCG66 và các giống lúa - Xác định ảnh hưởng của thời vụ tới một số chỉ tiêu sinh lý của giống lúa DCG66 và các giống lúa - Xác định ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất đối với giống lúa DCG66 và các giống lúa - Xác định ảnh hưởng của thời vụ đến tình hình sâu bệnh hại 3 PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1: Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Cây lúa (Oryza sativa) xuất hiện ở vùng Triết Giang Trung Quốc cách đây khoảng 5000 năm.
Về nguồn gốc lúa trồng Châu Á Oryza sativa vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số tác giả (Sampath và Rao, Sampath, 1951) cho rằng: Oryza sativa tiến hóa từ lúa dại hàng năm O. Sano và cộng sự (1958), Oka (1998), Mirishima (1992) cho rằng lúa là dạng trung gian giữa O. Nghiên cứu của Ting (1933), Sampath và Rao (1951) thì O.sativa có nguồn gốc xuất xứ ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Theo Kamarov (1938), Erughin (1950) lại cho rằng cây lúa có nguồn gốc ở vùng đồng bằng Đông Nam còn kết luận của Chang (1976) thì O.sativa xuất hiện đầu tiên ở Hymalaya, Miến Điện, Bắc Lào, Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc (trích dẫn của Nguyễn Văn Hiển, 2000). Wattg (1980) và Vavilop (1926) cho rằng cây lúa đầu tiên ở Nam Trung Quốc. Từ đây lúa Indica phát tán lên lưu vực Sông Hoàng Hà và Dương Tử rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên và từ đó biến dị hình thành chủng Japonica. Lúa Javanica được hình thành ở Indonesia là một sản phẩm của quá trình chọn lọc từ Indica (Nguyễn Văn Hiển, 2000).
Tại Việt Nam qua khảo sát về nguồn gen cây lúa cho thấy có 5 loại lúa dại mọc ở các vùng Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng Sông Cửu Long, đó là các loài: O.Từ những dẫn chứng và tài liệu ở trên ta thấy được lịch sử phát triển của cây lúa cũng như tầm quan trọng của nó đối với loài người. Năm 2020 do ảnh hưởng của dich COVID-19 đã tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại toàn cầu gây gián đoạn cũng như làm chậm chuỗi cung ứng gạo trên toàn cầu cộng thêm việc thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lao động đã ảnh 4 hưởng đán kể đến sản lượng gạo làm cho nguồn cung lúa gạo vô cùng khan hiếm. Lần đầu tiên sau ba thập kỷ, nước tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới (Trung Quốc) đã phải mua gạo Ấn Độ trong tháng 12 vừa qua, Bangladesh, nhà sản xuất gạo lớn thứ ba thế giới, cũng phải nhập khẩu gạo có thể tăng lên 2 triệu tấn trong năm kết thúc vào tháng 6/2021, cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây. Sự khan hiếm về nguồn cung cộng thêm nhu cầu lúa gạo nội địa tăng cao đã đẩy giá gạo lên mức cao kỉ lục tuy nhiên do khả năng thích ứng nhanh chóng và áp dụng những tiễn bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp mà sản lượng gạo bình quân trên thế giới không bị quay đầu mà còn bứt phá tăng trưởng nhẹ.
Theo FAO, năm 2020, sản lượng sản xuất gạo thế giới đạt 508,4 triệu tấn, tăng 1,52% so với 2019, theo tính toán của FAO, sản lượng tiêu thụ gạo năm 2020 đạt 510,3 triệu tấn, tăng 1,52% so với cùng kỳ 2019,đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo vẫn là Ấn Độ năm 2020 đạt 14,2 triệu tấn xếp thứ 2 là Việt Nam và thứ 3 là Thái Lan. Tuy Tuy Ấn độ là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới tuy nhiên giá gạo lại không cao bằng Việt Nam và thua xa Thái Lan, trong tình hình thị trường thế giới có những diễn biến phức tạp do đại dịch cộng thêm điều kiện thời tiết thất thường vừa là thách thức cũng như cơ hội cho những người làm nông nghiệp không ngừng cải tiến và sáng tạo để thích ứng với thời cuộc và gia tăng ưu thế cạnh tranh trên thị trường không chỉ ở trong khu vực mà còn trên thế giới.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt nam Việt Nam là nước có truyền thống trồng lúa, nền văn minh lúa nước có trên 4,000 năm lịch sử, Việt Nam nằm trong vùng địa lý được xem như là khởi nguyên của cây lúa, chạy dài từ chân núi Hi Mã Lạp Sơn cho đến bờ biển Đông. Việt Nam nằm trên kinh tuyến 15 và giữa vĩ độ 80B - 23 0B được chia thành 7 vùng sinh thái nông nghiệp (Miền núi phía Bắc, ĐB sông Hồng, Bắc Trung Bộ, 5 Nam Trung Bộ, Tây nguyên, Đông Nam Bộ, ĐB sông Cửu Long). Lúa gạo là nguồn thức ăn căn bản của dân tộc Việt Nam.
Cây lúa có thể sinh sống và thích nghi trong nhiều điều kiện khác nhau: lúa rẫy, lúa nước trước năm 1945, diện tích đất trồng lúa của nước ta là 4,5 triệu ha, năng suất trung bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng 5,4 triệu tấn (Bùi Huy Đáp, 1999). Sau giải phóng nhờ sự vào cuộc mạnh mẽ của nhà nước với những chính sách đổi mới và cải cách nông nghiệp táo bạo như thành lập lên các hợp tác xã, các chương trình khoán 5, khoán 10… đã thổi một luồng gió mới vào nền nông nghiệp nước nhà cùng với đó là những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp được các nhà khoa học áp dụng và sáng tạo ra đã giúp cho người dân dần thay đổi tư duy và nhận thức về nghành nông nghiệp bắt đầu áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất: dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu … kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý. Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế. Năm 1996, nước ta xuất khẩu được 3,2 triệu tấn lương thực, năm 1999, nước ta vươn lên đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo.