Chương 1 TƢ DUY VÀ KHÁI NIỆM Để vạch ra lôgíc vận động của khái niệm trong tư duy lý luận, trước hết cần bàn luận những vấn đề chung về tư duy và các cấp độ của tư duy, về khái niệm, các cấp độ và lôgíc của khái niệm. Tƣ duy và các cấp độ của tƣ duy 1. Tƣ duy Theo Mác, con người cũng giống với con vật, tồn tại nhờ có những hoạt động sinh sống. Nhưng ông phân biệt: Con vật đồng nhất trực tiếp với hoạt động sinh sống của nó.
Nó không tự phân biệt nó với hoạt động sinh sống của nó. Nó là hoạt động sinh sống ấy. Còn con người thì làm cho bản thân hoạt động sinh sống của mình trở thành đối tượng của ý chí và của ý thức của mình. Hoạt động sinh sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức.
Đó không phải là cái tính qui định mà con người trực tiếp hòa làm một với nó. Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật [84, 136]. Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật. Khẳng định này làm cho chúng ta phải chú ý đến hai điểm.
Một là, trong hoạt động sinh sống của mình, con người tự phân biệt với con vật bởi họ có ý thức về chính hoạt động sinh sống ấy. Hai là, con người khác với con vật bởi hoạt động sinh sống của họ có sự chỉ đạo của ý thức. Dĩ nhiên, chỉ khi con người có ý thức về hoạt động sinh sống của mình, thì ý thức ấy mới có thể trở thành nhân tố chỉ đạo hoạt động sinh sống của họ. Nhưng ý thức là gì mà nhờ có nó trong hoạt động sinh sống của mình, con người tự phân biệt với con vật? Mác cho rằng, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc người và được cải biến đi ở trong đó” [76, 35], còn theo Lênin thì ý thức là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” [41, 138].
Có thể khái quát trên quan điểm duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh một cách năng động và sáng tạo về thế giới khách quan trong bộ não của con người. Đây là sự phản ánh mà những thông tin về các đối tượng vật chất ở bên ngoài được lựa chọn và “mã hóa” trong bộ não người thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất hay được cải biến đi thành hình ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 chủ quan phi cảm tính. ý thức con người cũng không phải là sự phản ánh thế giới khách quan một cách đơn giản, thụ động và máy móc. ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con người lao động tích cực cải tạo thế giới ấy và vì vậy, đó là sự phản ánh sáng tạo lại thế giới khách quan trong bộ não người theo những nhu cầu của thực tiễn xã hội.
Lao động là phương thức sinh sống cơ bản của con người. Trong lao động diễn ra một quá trình bao gồm hai chiều có liên quan mật thiết với nhau. Chiều thứ nhất, hoạt động được vật hóa vào trong sản phẩm, tức lao động chuyển từ hình thái “động” sang hình thái “tĩnh” [xem 76, 271]. Chiều thứ hai, “di chuyển” các khách thể vào bộ não người và cải biến đi ở trong đó thành những hình ảnh tinh thần hay ý thức.
Chiều thứ hai chính là hoạt động phản ánh của con người, sản sinh ra ý thức. Hoạt động phản ánh ở con người rất đa dạng và phức tạp, song nhìn chung có thể phân chia một cách tương đối thành hai mặt: xúc cảm và nhận thức. Mặt xúc cảm tạo ra những tình cảm nói lên mục đích của hoạt động và điều khiển các hành động của con người với đối tượng bằng cách gán giá trị cho các mục tiêu của chúng. Mặt nhận thức thể hiện sự phản ánh hướng đến việc nắm hiểu khách thể cùng các phương tiện và phương pháp hoạt động, sản sinh ra những tri thức cung cấp “cái kỹ thuật” cho các hành động của con người.
Xúc cảm và nhận thức trong hoạt động phản ánh của con người luôn gắn bó với nhau; chúng ta thấy ở các hiện tượng ý thức, không có hiểu biết nào mà không đi kèm những tình cảm nhất định và cũng không có tình cảm nào lại không hàm chứa một tối thiểu những hiểu biết nhất định. Sự gắn bó với nhau giữa xúc cảm và nhận thức, khiến cho hoạt động phản ánh của con người luôn có tư cách là nhận thức và từ đó có thể nói, không có nhận thức thì nói chung, con người cũng không có ý thức. Thoạt đầu, ý thức thường bao gồm những hình ảnh giúp cho con người thấy ra thế giới các sự vật, hiện tượng bên ngoài. Sự phát triển xã hội ngày càng làm cho lao động trở thành phương thức duy nhất của tồn tại người và do đó, cũng làm cho ý thức trở thành hình thức phản ánh phổ biến mang đặc trưng người.
Khi đó ý thức mở rộng ra bao quát toàn bộ đời sống của con người; bao quát không chỉ các sự vật, hiện tượng bên ngoài mà cả hoạt động sinh sống của con người. Thế là hoạt động với đối tượng của con người cũng được họ ý thức, tức con người không chỉ có ý thức về các sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 vật và hiện tượng xung quanh, mà còn có ý thức về cả các hành động và thao tác thực tiễn của mình. Như vậy, ở một trình độ phát triển nhất định thì ý thức của con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan thông qua lao động, mà còn phản ánh cả bản thân lao động. Đây chính là điều đã dẫn Mác đến chỗ nhận xét rằng, con vật không tự phân biệt nó với hoạt động sinh sống của nó, còn con người thì biến bản thân hoạt động sinh sống (được hiểu là lao động) của mình thành đối tượng của ý thức.
Khi con người ý thức được lao động của mình, thì nghĩa là đã có sự “di chuyển” (có cải biến) hoạt động vật chất bên ngoài vào trong đầu óc của họ; không chỉ đối tượng, kết quả mà cả những hành động và thao tác thực tiễn của lao động cũng được phản ánh trong ý thức. Lúc này, những hành động và thao tác thực tiễn bên ngoài của con người trở nên có ý nghĩa điệu bộ, thông báo và lời nói, chúng được ghi lại, giữ lại và cải biến đi trong ý thức của họ thành những hành động và thao tác trí óc, làm cho “ý thức - hình ảnh” trở thành “ý thức - hoạt động” [51, 150]. Nói cách khác, ý thức đã trở thành hoạt động. Với tư cách là hoạt động, ý thức có tính độc lập tương đối với thế giới đối tượng và ở chừng mực nhất định, nó thoát khỏi sự chi phối trực tiếp của thực tiễn cảm tính của con người.
ý thức - hoạt động, nhìn chung cũng có mặt xúc cảm và mặt nhận thức. Mặt xúc cảm vẫn tạo ra những tình cảm, xác định mục đích và gán giá trị cho các mục tiêu hành động của con người. Nhưng lúc này xúc cảm có trình độ cao hơn, đã trở thành một hoạt động bên trong ý thức, những đánh giá của nó được nâng lên dưới sự chỉ dẫn của tri thức làm cho các tình cảm hàm chứa nhiều trí tuệ hơn. Mặt nhận thức vẫn là hoạt động nhằm nắm hiểu khách thể cùng các phương thức và phương tiện hoạt động, sản sinh ra những tri thức cung cấp kỹ thuật cho các hành động của con người.
Song lúc này, nhận thức cũng được nâng lên trình độ cao hơn, trở thành một hoạt động trí óc diễn ra ở ngay bên trong các hiện tượng ý thức. Trên bình diện này, nhận thức của con người phản ánh được lao động và trở thành hoạt động của những tri thức sản sinh ra tri thức. Khi con người phản ánh được lao động vào ý thức, thì một số trong những tri thức của họ được sinh ra từ đó trở nên có nội dung hoạt động. Nói cách khác, lúc này quá trình nhận thức ở con người sản sinh ra những tri thức và truyền cho một số trong đó cả nội dung hoạt động.
Mỗi tri thức có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 nội dung hoạt động tức tri thức phản ánh được lao động là một “hình ảnh tổng thể” về đối tượng, về phương tiện và phương pháp hoạt động, về những hành động và thao tác thực tiễn của con người với đối tượng và về cả bản thân con người với tính cách là chủ thể hoạt động. Vậy tri thức có nội dung hoạt động thực sự là một hệ thống. Chính là, hoạt động thực tiễn được con người phản ánh và cải biến đi trong ý thức của họ thành nội dung hoạt động của tri thức. Với những tri thức có nội dung hoạt động thì ở con người xuất hiện một dạng nhận thức cao hơn, đó là tư duy.
Nếu nhận thức nói chung được hiểu là quá trình phản ánh có cải biến thế giới khách quan trong đầu óc con người và sản sinh ra ở trong đó những tri thức, thì tư duy con người có tính cách là hệ tri thức hoạt động sản sinh ra tri thức. Tư duy theo nghĩa đó, là mặt nhận thức của ý thức - hoạt động. Cho nên, nếu không có nhận thức cũng như ý thức thì con người không thể có tư duy. Con người có tư duy khi nhận thức của họ phản ánh được lao động vào trong ý thức, hay nói cách khác tư duy là nhận thức của con người ở trình độ họ ý thức được lao động với tính cách phương thức tồn tại xã hội của mình.
Là nhận thức của con người ở trình độ ấy, tư duy “phản ánh hiện thực một cách tích cực, khái quát, trung gian, diễn ra trong quá trình thực tiễn, cho phép phát hiện ra các quan hệ hợp quy luật của nó dựa trên dữ liệu cảm tính và biểu thị chúng trong hệ thống những sự trừu tượng hóa” [136, 261]. Tư duy đánh dấu bước phát triển căn bản của nhận thức con người lên trình độ có thể nắm bắt được bản chất và quy luật của thế giới đối tượng. Cùng với sự xuất hiện của tư duy và được sự chỉ đạo của nó, con người cũng từng bước trở thành chủ thể của các quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội của mình. Những phân tích trên đây cho phép chúng ta vạch ra các đặc trưng sau của tư duy con người.