Lôgic học Hêghen và sự vận dụng của C. Mác trong Tư bản

Khám phá luận văn thạc sĩ về lôgic học G.W.F. Hegel và ứng dụng của C.Mác trong tác phẩm Tư bản, phân tích sâu sắc và lý thuyết triết học.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2012

107
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÔGIC HỌC HÊGHEN VÀ TƯ BẢN CỦA C. MÁC: KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

1.1. Giới thiệu về lôgic học Hêghen

1.2. Sơ lược về vị trí của lôgic học trong hệ thống triết học Hêghen

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về lôgic học Hêghen và C

Lôgic học Hêghen là một trong những thành tựu quan trọng nhất của triết học cổ điển Đức. Hêghen đã xây dựng một hệ thống lôgic học biện chứng, trong đó tư duy được xem như một quá trình phát triển liên tục. C. Mác, trong tác phẩm 'Tư bản', đã kế thừa và phát triển những nguyên lý lôgic này để phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản. Việc hiểu rõ lôgic học Hêghen là điều kiện tiên quyết để nắm bắt được tư tưởng của Mác.

1.1. Lôgic học Hêghen Khái niệm và vai trò

Lôgic học Hêghen không chỉ là một bộ môn triết học mà còn là nền tảng cho việc phát triển tư duy biện chứng. Hêghen đã chỉ ra rằng tư duy không phải là một quá trình tĩnh mà là một quá trình động, luôn thay đổi và phát triển.

1.2. C. Mác và sự vận dụng lôgic Hêghen

C. Mác đã áp dụng lôgic học Hêghen vào việc phân tích các phạm trù kinh tế trong 'Tư bản'. Ông đã sử dụng phương pháp biện chứng để làm rõ bản chất của hàng hóa, tiền tệ và giá trị thặng dư.

II. Thách thức trong việc áp dụng lôgic Hêghen vào Tư bản

Việc áp dụng lôgic học Hêghen vào 'Tư bản' không phải là điều dễ dàng. Mác đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc chuyển đổi các khái niệm triết học phức tạp thành các khái niệm kinh tế cụ thể. Sự khác biệt giữa lôgic biện chứng và lôgic hình thức truyền thống đã tạo ra những khó khăn trong việc hiểu và áp dụng.

2.1. Khó khăn trong việc hiểu lôgic biện chứng

Lôgic biện chứng của Hêghen thường bị hiểu nhầm là một hệ thống phức tạp và khó tiếp cận. Điều này đã dẫn đến việc nhiều người không thể nắm bắt được các nguyên lý cơ bản mà Mác đã vận dụng.

2.2. Sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn

Mác đã phải đối mặt với sự khác biệt giữa lý thuyết lôgic và thực tiễn kinh tế. Việc áp dụng các khái niệm triết học vào thực tiễn kinh tế đòi hỏi một cách tiếp cận linh hoạt và sáng tạo.

III. Phương pháp biện chứng trong Tư bản của C

Mác đã sử dụng phương pháp biện chứng để phân tích các khía cạnh khác nhau của chủ nghĩa tư bản. Ông đã chỉ ra rằng các phạm trù kinh tế không thể được hiểu một cách tách biệt mà phải được xem xét trong mối quan hệ với nhau. Phương pháp này giúp làm rõ bản chất của các hiện tượng kinh tế.

3.1. Phân tích hàng hóa và giá trị

Mác đã bắt đầu từ khái niệm hàng hóa để phân tích giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Ông đã chỉ ra rằng giá trị không chỉ là một con số mà còn phản ánh mối quan hệ xã hội giữa con người.

3.2. Quá trình sản xuất tư bản

Mác đã mô tả quá trình sản xuất tư bản như một quá trình biện chứng, trong đó lao động và tư bản tương tác với nhau để tạo ra giá trị thặng dư.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lôgic Hêghen trong Tư bản

Lôgic học Hêghen đã được Mác áp dụng để phân tích các hiện tượng kinh tế trong xã hội tư bản. Những ứng dụng này không chỉ giúp làm rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản mà còn cung cấp những công cụ lý luận để hiểu các vấn đề kinh tế xã hội hiện đại.

4.1. Phân tích các mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản

Mác đã sử dụng lôgic biện chứng để phân tích các mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản, như mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa sản xuất và tiêu dùng.

4.2. Tác động của lôgic Hêghen đến tư duy kinh tế hiện đại

Lôgic Hêghen đã ảnh hưởng đến nhiều nhà kinh tế học hiện đại, giúp họ phát triển các lý thuyết mới về kinh tế và xã hội.

V. Kết luận Tương lai của lôgic học Hêghen và C

Lôgic học Hêghen và sự vận dụng của C. Mác trong 'Tư bản' vẫn còn nguyên giá trị trong việc phân tích các vấn đề kinh tế xã hội hiện đại. Việc nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa hai hệ thống lôgic này sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề phức tạp trong xã hội ngày nay.

5.1. Tầm quan trọng của lôgic học trong nghiên cứu kinh tế

Lôgic học không chỉ là một công cụ lý luận mà còn là một phương pháp nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực kinh tế. Nó giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các quy luật vận động của nền kinh tế.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu về lôgic học Hêghen và C. Mác cần được tiếp tục để phát triển các lý thuyết mới, phù hợp với thực tiễn kinh tế xã hội hiện đại.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh lôgic học g w f hêghen và sự vận dụng của c mác trong tư bản

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. LÔGIC HỌC HÊGHEN VÀ TƯ BẢN CỦA C. MÁC: KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN 1.

Giới thiệu về lôgic học Hêghen 1. Sơ lược về vị trí của lôgic học trong hệ thống triết học Hêghen Triết học của Hêghen là hệ thống triết học phong phú nhất, hoàn thiện nhất trong lịch sử triết học trước Mác. Hêghen đã tổng kết hầu như toàn bộ tư tưởng triết học đã có ở phương Tây, nghiên cứu các học thuyết của các bậc tiền bối để tìm ra ý nghĩa của chúng ở mỗi giai đoạn lịch sử. Ông đã dành rất nhiều nỗ lực cho việc nghiên cứu triết học và cuối cùng xây dựng hệ thống triết học bao gồm lôgic học, triết học tự nhiên và triết học tinh thần.

Trong hệ thống đó lôgic học là bộ phận đầu tiên và sinh động nhất. Ăngghen đã nhận xét rằng trong triết học và lôgic học trước Mác, chỉ có Arixtôt và Hêghen là những người đã nghiên cứu các phạm trù lôgic sâu sắc hơn cả. Arixtôt gắn chặt học thuyết của mình về các phạm trù với học thuyết lôgic chung nhất của mình, nhất là với lý thuyết suy luận diễn dịch. Đến Hêghen là sự phát triển cao hơn, là một bậc thang mới trong việc nghiên cứu về học thuyết lôgic.

Để hiểu được lôgic học của Hêghen, trước hết phải hiểu được các thuật ngữ mà ông đã dùng như: Ý niệm và ý niệm tuyệt đối. Ý niệm là tư duy tuyệt đối đồng nhất với chính mình, điều này ám chỉ sự vật ở giai đoạn đầu của sự phát triển, khi mà toàn bộ năng lực của nó chưa biểu hiện ra, tựa như bản chất còn đang khép kín. Như vậy, ý niệm chính là tính khả niệm (tính có thể suy tưởng được, có thể hiểu được) của mọi sự vật, là tư duy kích hoạt tất cả, và tất cả đều là một sự phản ánh, một sự tham dự vào tư duy. Vậy thực chất ý niệm chính là tư duy tự suy tưởng, và do đó, suy tưởng về tất cả những gì có thể suy tưởng được.

Ý niệm trước hết là một cái phổ biến, là cả một vũ trụ mà ta 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không bao giờ ra khỏi nó được. Nó là Tư duy, và bất kể nó là gì và đang suy tưởng – thì vẫn luôn tự khẳng định chính mình như là tư duy, và như thế bao giờ cũng đồng nhất với chính mình. Ý niệm chính là đối tượng nghiên cứu của Khoa học lôgic. “Ý niệm tự cho thấy như là tư duy tuyệt đối đồng nhất với chính mình, và điều này lập tức tự cho thấy là hoạt động thiết định chính mình đối lập lại với chính mình và để tồn tại cho-mình và chỉ tồn tại ở trong-nhà-nơi-chính-mình trong cái tồn tại khác này.

Như thế Khoa học [Triết học tư biện] chia làm ba phần…” [5, 82]1. Hệ thống triết học Hêghen có cấu trúc theo kiểu tam đoạn thức: chính đề - phản đề - hợp đề: (1) Tinh thần tuyệt đối tự mình (2) Tinh thần tuyết đối ở tồn tại khác (3) Tinh thần tuyệt đối cho mình Để hiểu rõ cấu trúc trên, hãy bắt đầu từ một điều đã biết: thông thường các nhà duy vật cho rằng con người là sản phẩm của tự nhiên, tức là qua một quá trình tiến hoá, phát triển lâu dài giới tự nhiên sẽ sản sinh ra con người. Nhưng Hêghen lại không chấp nhận quan niệm đó, ông cho rằng, một khi giới tự nhiên có thể sản sinh ra con người thì trong giới tự nhiên đã phải có con người dưới dạng tiềm tàng rồi. Đó chính là tinh thần tuyệt đối đang ở giai đoạn tự mình, trong đó ẩn chứa cả giới tự nhiên và con người hiện thực.

Hoặc có thể biểu thị hệ thống triết học của Hêghen bằng sơ đồ dễ hiểu hơn: (1) Con người lý tưởng (con người tiềm tàng) – (2) Giới tự nhiên – (3) Con người hiện thực (xã hội). 1 Chúng tôi quy ước: trong tài liệu số 5 (Bách khoa thư các khoa học triết học, tập 1), chỗ nào số chỉ trang được in nghiêng là phần chú giải của Bùi Văn Nam Sơn, còn in đứng là của chính Hêghen. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tương ứng với ba giai đoạn phát triển trên đây của tinh thần tuyệt đối là ba lĩnh vực nghiên cứu: (1) Lôgic học nghiên cứu con người lý tưởng, hay tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, giai đoạn tự mình. Điều đó được trình bày trong tác phẩm Khoa học logic, còn gọi là Đại lôgic và tập I của Bách khoa toàn thư các khoa học triết học, hay Tiểu lôgic.

(2) Triết học tự nhiên nghiên cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn tồn tại khác. (3) Triết học tinh thần (xét về cấu trúc hệ thống thì bao gồm Hiện tượng học tinh thần, triết học pháp quyền, triết học lịch sử, triết học tôn giáo và thẩm mỹ học) nghiên cứu con người hiện thực trong những hoạt động xã hội của nó. Lôgic học là khoa học về tư duy. Lôgic học của Hêghen cũng không phải là ngoại lệ.

“Đối tượng của nó là tư duy, hay nói một cách cụ thể hơn, tư duy được nhận thức trong các khái niệm, về cơ bản được xem xét trong lôgic học” [Trích theo 11, 226]. Hêghen cho rằng “Lôgic học là Khoa học về Ý niệm thuần tuý, tức là, Ý niệm trong môi trƣờng trừu tƣợng của tư duy” [5, 91]. Và Hêghen đã định nghĩa đối tượng lôgic học của mình cụ thể hơn: Có thể nói, lôgic học là khoa học về tư duy, các khái niệm và quy luật của nó. Nhưng chính bản thân tư duy thì mang bản chất chung, phổ quát, hay là môi trường trong đó ý niệm thể hiện như là ý niệm lôgic.

Ý niệm là tư duy, nhưng không phải là tư duy hình thức, mà là một tổng thể các khái niệm và quy luật không ngừng phát triển của nó. Như nhiều nhà lôgic học trước đây, tư duy theo cách hiểu Hêghen trước hết là khả năng hoạt động, khả năng suy tư. Đó chính là trí tuệ con người, là khả năng lý trí của con người, khả năng nhận thức lý tính, lý luận đối lập với 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khả năng cảm tính. Nhưng Hêghen không phải là nhà duy lý cực đoan, mà vẫn khẳng định vai trò nhất định của nhận thức cảm tính.

Theo nghĩa rộng, thì tư duy theo cách hiểu của ông bao trùm mọi khả năng nhận thức của con người, trong đó cả khả năng cảm tính và kinh nghiệm. Đây là điểm khác căn bản giữa Hêghen với các nhà duy vật và các nhà duy cảm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cảm tính và lý tính. Ở đây cần phải thấy: Thứ nhất, tư duy với tính cách là đối tượng của lôgic học không phải là tư duy cá thể, mà là tư duy nói chung, biểu hiện thông qua tư duy của những cá thể cụ thể, chi phối tư duy của những cá thể cụ thể. Tư duy còn là cái phổ quát trong tất cả các biểu tượng, và nói chung trong mọi hoạt động của tinh thần.

Tư duy bao quát hết mọi khả năng hoạt động tinh thần của con người. Như vậy, khái niệm “tư duy” mang tính xuất phát đối với Hêghen có liên quan tới thực thể chung của tinh thần, của lý tính. Thông qua lý tính, Hêghen giải thích giới tự nhiên và tinh thần hiện thực như là những biểu hiện của ý niệm lôgic. Theo Hêghen, giống như tinh thần, giới tự nhiên cũng có lý tính, cũng mang tính thần thánh, cũng là biểu hiện của ý niệm.

Thứ hai, tư duy theo cách hiểu Hêghen không phải chỉ là khả năng chủ quan thuần tuý của riêng con người, mà phải được vật hoá, phải được khách quan hoá. “Tƣơng ứng với các quy định này, những tƣ tƣởng có thể đƣợc gọi là những tƣ tƣởng khách quan…Vì thế, Lôgic học trùng khít với Siêu hình học, tức với khoa học về những sự vật đƣợc nắm bắt ở trong tư tưởng, tức trong những gì đƣợc xem là để diễn tả những tính bản chất của sự vật” [5, 110]. Có thể cho rằng trong giới tự nhiên có giác tính, lý tính thì không khác gì nói đó là tư tưởng đã được khách quan hóa. Như vậy, phạm vi nghiên cứu của lôgic học không chỉ là tư duy chủ quan như các quan niệm trước đây, mà mở rộng ra toàn bộ giới tự nhiên (được hiểu là tư duy ở dạng 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tồn tại khác) và toàn bộ lĩnh vực hoạt động xã hội của con người (được hiểu là tư duy cho mình - fuer sich).

Do vậy, lôgic học phân thành lôgic chủ quan, tức bộ phận nghiên cứu tư duy với tính cách là khả năng chủ quan của con người, và lôgic khách quan, tức bộ phận nghiên cứu tư duy tồn tại dưới dạng các sự vật. “Lôgic khách quan, như vậy, thay thế chỗ cho cái siêu hình học trước đây… Lôgic học chủ quan – đó là lôgic học khái niệm” [Trích theo 11, 229]. Thứ ba, tư duy không phải là một cái gì đó tĩnh tại, mà là một quá trình phát triển. Hêghen diễn tả sự phát triển của tư duy cũng như mọi vật bằng hai cụm từ ám chỉ trạng thái tồn tại của sự vật: tự mình (an sich), và cho mình (fuer sich).

Khi nói đến bản chất tự mình và cho mình, tức ám chỉ bản chất không phải là cái gì đó tĩnh tại, mà như một quá trình. Như vậy, theo Hêghen, tất cả những khái niệm, những phạm trù lôgic học, tất cả những quy luật lôgic học không phải là những thứ bất biến, có sẵn, mà như một quá trình phát triển theo hướng hoàn thiện. Quan niệm của Hêghen về tư duy với tính cách là đối tượng lôgic học có thể đúc kết trong luận điểm xuyên suốt toàn bộ hệ thống của ông: “Cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp-lý tính” [5, 59]. Luận điểm này lần đầu tiên được ông phát biểu trong “Lời tựa” cho tác phẩm Những nguyên lý của triết học pháp quyền và được ông tái khẳng định trong Tiểu lôgic.

Hiện thực trong cách hiểu của ông khác với tồn tại. Tồn tại là nhìn sự vật một cách bề ngoài, giản đơn khẳng định rằng sự vật đó hiện hữu, nghĩa là có. Còn hiện thực là một phạm trù có nội dung sâu sắc hơn, chỉ ra trạng thái hiện thời của vật đang tồn tại đó như thế nào, xu hướng phát triển của nó ra sao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ