HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ********* TẬP HỢP BÁO CÁO CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2007 Mã số: 07 - 18 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI LIÊN MINH CÔNG NHÂN - NÔNG DÂN VÀ TRÍ THỨC TRONG 20 NĂM ĐỔI MỚI (1986-2006) LỊCH SỬ VÀ KINH NGHIỆM Cơ quan chủ trì : Viện Lịch sử Đảng Chủ nhiệm đề tài : Ths. Đỗ Xuân Tuất Thư ký đề tài : Đoàn Văn Viện 6965-1 28/8/2008 HÀ NỘI – 2008 DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN PGS,TS Trần Thị Thu Hương PGS,TS Triệu Quang Tiến PGS,TS Vũ Quang Vinh TS Nguyễn Danh Tiên ThS Nguyễn Thắng Lợi ThS Nguyễn Danh Lợi ThS Đặng Kim Oanh ThS Nguyễn Văn Toàn ThS Đỗ Xuân Tuất CN Nguyễn Thị Thanh Hà CN Lê Minh Phương CN Đoàn Thị Hương CN Đào Thị Hoàn CN Đoàn Văn Viện 1 MỤC LỤC Đặng Kim Oanh - Đoàn Thị Hương: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về tính tất yếu và tầm quan trọng của liên minh công - nông - trí. 3 Nguyễn Danh Tiên - Nguyễn Danh Lợi : Liên minh công - nông - trí trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, những năm 1930 - 1985. 29 Nguyễn Thắng Lợi - Lê Minh Phương: Thành tựu và những hạn chế, khó khăn trong lãnh đạo xây dựng liên minh công - nông - trí.
41 Lê Văn Toàn: Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Việt Nam trong quá trình phát triển của lịch sử. 78 Vũ Quang Vinh: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về liên minh công - nông - trí thức và thực trạng liên minh công - nông - trí thức trong thời kỳ đầu đổi mới. 88 Triệu Quang Tiến: Quan điểm của Đảng và thực trạng liên minh công - nông - trí ở Việt Nam từ 1996 đến 2006. 104 Trần Thị Thu Hương: Bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và củng cố liên minh công nhân, nông dân và trí thức qua 20 năm đổi mới.
119 Đỗ Xuân Tuất: Một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng khối liên minh công - nông - trí thời kỳ mới. 143 2 QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN, HỒ CHÍ MINH VỀ TÍNH TẤT YẾU VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA LIÊN MINH CÔNG – NÔNG - TRÍ ThS Đặng Kim Oanh1 Đoàn Thị Hương2 Tuân theo những quy luật nội tại của sự vận động xã hội, theo học thuyết Mác - Lênin, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan của lịch sử loài người. Giai cấp vô sản là người có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động, cùng với họ tiến hành cuộc cách mạng xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ nguồn gốc của tình trạng bất công, người bóc lột người. Và để có thể tiến hành được cuộc cách mạng vĩ đại, sâu sắc nhất trong lịch sử loài người này, giai cấp vô sản phải tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân lao động, quy tụ được đại đa số cư dân trong xã hội, lãnh đạo họ thực hiện cuộc đấu tranh đạt tới mục tiêu chung của xã hội loài người.
Muốn thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, tập hợp được lực lượng cho cuộc cách mạng vĩ đại, giai cấp vô sản phải ý thức được vị trí, vai trò của mình, phải xây dựng, tổ chức được Đảng của giai cấp mình, phải xác định được những lực lượng cần và có thể tham gia cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản lãnh đạo, xác định được đối tượng cần phải đoàn kết, liên minh để tập hợp. Hơn thế nữa, Đảng của giai cấp vô sản cần phải tiến hành sâu rộng công tác giáo dục tuyên truyền giác ngộ cho những người bạn đồng minh hiện tại cũng như tương lai của mình về tính cấp thiết, tất yếu của việc xây dựng một liên minh đối lập với giai cấp tư sản, kề vai sát cánh với giai cấp vô sản đấu tranh cho mục tiêu chung cao đẹp của toàn thể loài người, là xóa bỏ tình trạng người bóc lột người, xây dựng một xã hội không còn giai cấp đối kháng. Quá trình giáo dục, tuyên truyền giác ngộ để tập hợp các lực lượng trong liên minh này cần phải tiến hành một cách kiên trì, liên tục, lâu dài. Bởi vì những người bạn đồng minh của giai cấp vô sản (giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, trí thức v.) tuy có chung những lợi ích cơ bản, lâu dài với giai cấp vô 1 , 2 Viện Lịch sử Đảng 3 sản, nhưng do địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của họ, do những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, họ lại có những lợi ích, những nhu cầu trước mắt mâu thuẫn với nhu cầu, lợi ích của giai cấp vô sản (mà xét đến cùng, nhu cầu lợi ích của giai cấp vô sản thực ra chính là đại diện cho nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội).
Nên họ dễ coi liên minh này là tạm thời, là để đạt được mục tiêu chung. Sự tham gia liên minh với giai cấp công nhân của giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác như tiểu tư sản, trí thức là hoàn toàn tự nguyện không thể ép buộc. Tính tự nguyện của liên minh tạo nên bởi sự giác ngộ về tính cấp thiết tất yếu phải liên hiệp lại, đoàn kết đấu tranh chống lại giai cấp tư sản thì mới đạt được mục tiêu chung của toàn xã hội, đồng thời thỏa mãn được những nhu cầu lợi ích của mỗi một thành viên tham gia liên minh. Thực tế cho thấy ở nước ta, do những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mình, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, và trí thức cũng như các tầng lớp nhân dân lao động khác, không có những khác biệt quá xa về những lợi ích cơ bản.
Mặt khác, ngay giai cấp tư sản Việt Nam cũng không giống như giai cấp tư sản ở các nước phương Tây hoặc các nước công nghiệp phát triển khác. Đây là một giai cấp sinh sau đẻ muộn, yếu ớt, phụ thuộc rất nhiều vào giai cấp tư sản nước ngoài, bị giai cấp tư sản nước ngoài chèn ép khống chế. Giai cấp tư sản Việt Nam phần nào cũng có tinh thần dân tộc, cũng có nguyện vọng xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh. Do đó khi nghiên cứu về liên minh của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và trí thức với các tầng lớp nhân dân lao động khác trong thời kỳ đổi mới cần phải tính đến đặc điểm giai cấp - xã hội này của Việt Nam.
Khi nói đến liên minh công - nông - trí. chính là nói đến những thành phần cơ bản chủ yếu của liên minh, tạo thành cái cốt lõi, cái linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc trong từng thời đoạn lịch sử cụ thể. Trên cơ sở liên minh cốt lõi này, các mối quan hệ liên minh giữa giai cấp công nhân với các tầng lớp xã hội, các giai cấp khác sẽ được hình thành phát triển và củng cố, góp phần làm cho khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng mở rộng và phát triển vững chắc trong thời kỳ xây dựng đất nước, trong tiến trình mở cửa hội nhập khu vực và thế giới. Xây dựng và củng cố liên minh giai cấp công nhân - nông dân - trí thức là một trong những đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng ta.
Thực tế lịch sử của 4 cách mạng nước ta cho thấy, thắng lợi của cách mạng trong từng thời đoạn đều gắn liền với sự bền vững cơ bản của xã hội lúc đó.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về liên minh công- nông- trí 1.1 Tính tất yếu và tầm quan trọng của liên minh công - nông - trí Trong những cống hiến lịch sử to lớn của C.Angghen, một trong vấn đề được coi là cốt lõi là trong khi phân tích cơ cấu kinh tế - xã hội của xã hội tư bản chủ nghĩa, hai ông đã chỉ ra quy luật lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội, khẳng định sự diệt vong tất yếu của chế độ tư bản chủ nghĩa và sự thay thế chế độ đó một cách hợp quy luật khách quan bằng chế độ xã hội chủ nghĩa tiến bộ hơn. Xuất phát từ sự phân tích cơ cấu kinh tế xã hội mà rút ra kết cấu xã hội của nó, hai ông đã luận chứng một cách khoa học về địa vị kinh tế - xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử đặc biệt của giai cấp công nhân là người tiên phong lãnh đạo và là lực lượng chủ yếu trong cuộc cách mạng xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng một chế độ xã hội mới trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ vĩnh viễn mọi nguồn gốc của tình trạng người bóc lột, áp bức người. Đồng thời hai ông cũng đã nêu ra những mục tiêu và con đường để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" C.Ăngghen đã phân tích sâu sắc xã hội tư bản chủ nghĩa và vạch ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là giải phóng toàn thể xã hội khỏi mọi ách bóc lột và áp bức một cách vĩnh viến.
Trong lời tựa cho lần xuất bản thứ ba: "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" bằng tiếng Đức Ph.Ăngghen đã nêu bật điều đó: "Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là: trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy; do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy tan rã, toàn bộ lịch sử là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và những giai cấp đi bóc lột, giữa những giai cấp bị trị và những giai cấp thống trị, qua các giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ; nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột và bị áp bức (tức là giai cấp vô sản) không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức là giai cấp tư sản) được 5 nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp"1.Ăngghen đã khẳng định rằng: Công nghiệp nhỏ tạo nên giai cấp tư sản, công nghiệp lớn tạo nên giai cấp công nhân.