phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khỏa và phụ lục, luận văn đợc chia ra làm 3 chơng: Chojong 1. Tong quan tai liệu và cơ sở lý luận về liên kết phát triển du lịch Chojong 2. Thuyc trang hoạt động liên kết phát triển du lịch ở thành phố Luangprabang và thành phố Hà Nội. Một số giải pháp liên kết phát triển du lịch ở thành phố Luangprabang và thành phố Hà Nội.
Chojong 1 TONG QUAN TAI LIEU VA CO SO LY LUAN VE LIEN KET PHAT TRIEN DU LICH 1. Tống quan nghiên cứu về liên kết phát triên du lich Dới con mắt của Sara Nordin (2003), liên kết thể hiện ở mạng lới và cụm. Theo tác giả, nếu mạng lới cho phép các doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ, đặc biệt với chi phí thấp, thì cụm thu hút những dịch vụ cần thiết vào một địa bàn. Ông nhân mạnh, những thành viên tham gia mạng lới có chung mục đích kinh doanh, còn cụm mang đến cho các thành viên một tầm nhìn tập thể và lâu dài.
Có thể hiểu rộng hơn ý tởng của tác giả về hai kiêu liên kết này là liên kết chức năng và liên kết không gian. Nguyễn Văn Huân (2012), cho rằng liên kết vùng cần đợc thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: Phân bố các ngành và phân bố vùng phải dựa trên các lợi thé so sánh có thể làm tổng chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm đến thị trong thấp nhất; là sự song hành huy động và sử dụng nguyên liệu cho nhiều nơi sẽ làm giảm hiệu suất sử dụng nguồn lợi và làm mắt đi các lực liên kết vùng; dựa trên hiệu quả quy mô. Trần Hữu Sơn (2016) chỉ ra nguyên tắc liên kết vùng, tiêu vòng du lịch là tôn trọng nguyên tắc toàn vẹn; liên kết du lịch trong khu vực là một quá trình năng động với các đặc điểm di chuyển, phối hợp, hội nhập và định kỳ. Vì vậy, cần tuân thủ các nguyên tắc phát triển tuần tự và có trật tự; nguyên tắc lợi ích, kết hợp lợi ích kinh tế và xã hội , lợi ích sinh thái.
Với cách tiếp cận nghiên cứu về đầu vào - đầu ra Hirschman (1958) khi đề cập đến liên kết kinh tế vùng, ông đã sử dụng khái niệm liên kết ngợc (backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages) để nghiên cứu các mỗi quan hệ ngành và liên ngành. Ông cho rằng các hiệu ứng liên kết ngợc (backward linkage effects) nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành nào đó mới đợc thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó nh là đầu vào các ngành khác đi theo. Hiệu ứng liên kết đợc xem nh các xung lực tạo ra các khoản đầu t mới thông 10 qua sự vận động của các mối quan hệ đầu vào - đầu ra. Đây chính là điểm mắu chôt trong lý thuyết phát triển kinh tế của Hirschaman, khi ông khuyến nghị cần tập trung đầu t vào những ngành có các mối liên kết mạnh, lan tỏa phát triển mạnh, để thông qua sức lan tỏa của chúng, thúc đây tăng trởng kinh tế (tăng trởng không cân đối).
(1998) cho rằng, liên kết là một trong những yếu tốcủa chiến lợc cạnh tranh. Liên kết tạo ra giá trị sản phẩm mới mà không một thành viên nào có từ trớc nên nó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho nhóm liên kết, tức là các bên tham gia liên kết. Sau này các học giả Hy Lạp Sgouro Melisidou và cộng sự (2010) cụ thể hóa các mục tiêu của liên kết: đó là tạo các sản phẩm hoặc dịch vụ chung; còng mua vật t thiết bị, dịch vụ hoạc công nghệ; cùng chia sẽ kết quả dịch vụ, tạo thơng hiệu phô biến và thực hiện xúc tiến của khu vục; tăng cờng các sản phâm du lịch và các điểm đến địa phơng. Mục tiêu lớn lao của liên kết phải là “ liên kết địa phơng, cạnh tranh toàn cầu”, tức là liên kết phải đợc nâng cao đợc năng lực cạnh tranh vợt khỏi biên giới quốc gia.
Nếu mạng lới cho phép các doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ đặc biệt với chi phí thấp thì cụm thu hút những dịch vụ cần thiết vào một địa bàn. Những thành viên tham gia mạng lới có chung mục đích kinh doanh, còn cụm mang đến cho các thành viên một tằm nhìn tập thể lâu dài. Về xu thế liên kết, xu thế mở rộng địa bàn, xác lập cơ chế liên kết đa phơng, đa quốc gia cũng đợc chú ý. Những nghiên cứu cho thấy, sự phát triển cả về qui mô, cũng nh tính đa dạng, mức tạp trong thành phần, cơ chế, đặc điểm của các liên kết.
Trớc tiên, phải kể đến cụ thế mở rộng địa bàn trong liên kết không gian du lịch, thể hiện ở việc liên kết nội vùng và ngoại vùng giữa các điểm du lịch biển và du lịch vòng núi ở trong và ngoài lãnh thổ, đã hình thành và phát triển từ nữa cuối thế kỷ trớc nh trong các công trình của Babbier (1967,1989), Balseinte R. (1978,1987) tại châu Âu. Đây là các liên kết “ngang”, đơn giản thông qua các tour, tuyến du lịch. Hầu nh các nghiên cứu lý thuyết, ít đề cập đến vấn đề xây dựng chính sách, đề xuất giải pháp cũng nh không đa ra các mô hình liên kết chung.
Tuy nhiên, 11 các nghiên cứu này cũng cấp các lý luận cơ bản, làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách, giải pháp, mô hình. Đặc biệt, chúng nhắn mạnh vai trò của cơ quan quản lý trong thành phần tham gia liên kết. Qua các công trình nghiên cứu có thê thấy, cho dù liên kết theo cách thức nào, ý kiến của chính quyền luôn giữ có vai trò quyết định. Từ góc độ thực tiễn, sau khi gia nhập WTO, du lịch Việt Nam đứng trớc một thị trờng rộng mở hơn với nhiều cơ hội nhng cũng đối mặt không ít thách thức.
Đảng, Nhà nớc và Chính phủ đã thấy đợc vai trò to lớn của việc liên kết trong phát triển du lịch. Trớc nhu cầu phát triển du lịch trong những năm qua, nhiều địa phơng đã quan tâm và triển khai liên kết du lịch giữa các tỉnh trong nớc và liên kết với các tỉnh khác ở nớc ngoài. Nhiều hội thảo bàn luận về liên kết phát triển du lịch trong và ngoài nớc đã đợc tổ chức nh hội thảo quốc tế “ Liên kết phát triển du lịch giữa Bình Định và các tỉnh Đông Bắc Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Lào”, hội thảo “ Liên kết phát triển du lịch vùng duyên hải miền trung với vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia ”, hội nghị khoa học Sau khi gia nhập WTO, du lịch Lào đứng trớc một thị trờng rộng mở hơn với nhiều cơ hội nhng cũng đối mặt không ít thách thức. Đảng, Nhà nớc và Chính phủ Lào đã thấy đợc vai trò to lớn của việc liên kết trong phát triển du lịch.
Các hội nghỉ trong và ngoài nớc đã đợc tô chức với sự tham gia Bộ Du lịch Lào nh: ngày 4/01/2016 Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) đợc tổ chức tại Philippines, các Bộ trởng Du lịch ASEAN đã công bố Chiến lợc phát triển du lịch ASEAN đến năm 2025. Đây là định hớng quan trọng đối với sự phát triển của du lịch ASEAN nói chung và du lịch Lào nói riêng trong bối cảnh Cộng đồng kinh tế ASEAN đã chính thức đợc thành lập, sự liên kết giữa cdc née ASEAN noi chung, du lịch các nớc nói riêng ngày càng chặt chẽ. Hội nghị này giới thiệu và phân tích một số đặc điểm nỗi bật để phát triển du lịch ở các nớc ASEAN, đồng thời đề xuất một số nội dung cần chú trọng nhằm hội nhập du lịch khu vực một cách hiệu quả và bền vững. Ngày 19/7/ 2017, tại Cung Văn hóa quốc gia Lào, Thủ đô Viêng Chăn, Tổng cục du lịch Lào kết hợp với Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tổ chức hội nghị xúc tiễn 12 quảng bá du lịch Lào - Việt Nam.
Nhân dip nay, lãnh đạo ngành Du lịch hai quốc gia cùng 80 đại biểu là đại diện các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, lữ hành, khách sạn của Lào, cùng các doanh nghiệp du lịch Việt Nam đã thảo luận các vẫn đề về giới thiệu điểm đến, thông tin về van dé quan lý và xúc tiễn du lịch, giới thiệu và trao đôi thông tin về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch cũng nh khó khăn vớng mắc và biện pháp tháo gỡ để Du lịch hai nớc cùng phát triển. Bà Sengsoda Vanthannouvong, Phó Cục trởng cục Xúc tiến Du lịch, Bộ Thôngtin, Văn hóa và Du lich Lào giới thiệu về các điểm đến của Lào, chính sách xúc tiến, quảng bá du lịch, tiềm năng, thế mạnh, điểm đến của du lịch Lào tới các đối tác Việt Nam. Tại hội nghị, Cục trởng Cục Xúc tiến Du lịch, Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào Sounh Manivong chia sẻ: Lào và Việt Nam có nhiều thế mạnh đề cùng hợp tác, phát triển du lịch. Hợp tác du lịch giữa hai nớc đã thực hiện từ Hiệp định hợp tác Du lịch năm 1991, từ đó đến nay, hai bên đã thực hiện nhiều chính sách u đãi, u tiên thủ tục, quảng bá xúc tiến.
ở cả cấp cơ quan quản lý nhà nớc về Du lịch và cả địa phơng, đặc biệt là ở các tỉnh biên giới hai nớc. Thông thờng, hai bên đều tổ chức các hoạt động carnaval, hội thảo, hội nghị xúc tiến hoặc trao đổi các đoàn du lịch qua nhau. Đặc biệt, những tuyến du lịch kết nối giữa hai nớc trong khu vựcnh Luangprabang với Hà Nội, Luangprabang với TP Hồ Chí Minhcũng đợc giới thiệu tại hội nghị. Theo đó, với những thuận lợi khi hai hãng hàng không quốc gia Lao Airlines và Vietnam Airlines đều có những chuyến bay thang nói các thành phố lớn của Lào nh Viéng Chan, Luangprabang, Pakse toi Ha Nội sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị cho du khách.
Bên cạnh đó, sự quan tâm của hai Đảng và Nhà nớc chính phủ Lào và chính phủ Việt Nam tới các chính sách phát triển du lịch Việt Nam - Lào thời gian gần đây sẽ tạo nhiều thuận lợi để việc liên kết, phát triển du lịch hợp tác giữa Việt Nam với Lào đợc thuận lợi. Ngày 21/11/2018, tại tỉnh Luông Pra Băng (Luangprabang), Nớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lãnh sự quán Việt Nam tại các tỉnh Bắc Lào phối hợp với Sở Thông tin, Văn hóa và Du lịch tỉnh Luông Pra Băng tổ chức Hội nghị Xúc tiến Hợp tác Du lịch giữa các tỉnh Việt Nam và Khu vực Bắc Lào với chủ đề "Hành trình đến với di sản thế giới".