Chương 1: Cơ sở lý luận và các khái niệm liên quan đến đề tài Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Bắc Bộ nghiên cứu tại làng Đường Lâm và làng Bát Tràng Chương 3: Giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ. 13 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về du lịch 1. Khái niệm du lịch Du lịch là một khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau.
Trước đây chúng ta vẫn định nghĩa“du” có nghĩa gốc là lá cờ hoặc tua cờ để trang trí, sau thêm bộ Thủy là hàm ý chuyển động như nước chảy, như chân đi lại và tạm dịch là chơi, đi chơi, rong chơi. Chữ” lịch” có nghĩa là trải nghiệm, trải qua. Vậy “du lịch” nhìn chung là đi chơi và trải nghiệm. Theo Luật Du lịch, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới( World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên hiệp quốc: du lịch gồm tất cả các hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành với mục đích kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. Hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma- Italia ngày 21/8/1963, các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.I Pirogionic đưa ra khái niệm “ du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu 14 z lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.
Như vậy, du lịch là một khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung đều mang lại cho con người sự nghỉ ngơi và hưởng thụ ngoài những việc làm thường xuyên hàng ngày của mình. Du lịch văn hóa Theo Luật Du lịch, du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống [29, tr.12] Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống của dân tộc kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa của như khách quốc tế. Với những khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. Tổ chức Du lịch Thế giới( UNWTO) định nghĩa du lịch văn hóa bao gồm các hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương.
Theo quan niệm của Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích( ICOMOS) thì du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn, tôn tạo. Loại hình này trên thực tế đã chứng minh cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa- kinh tế- xã hội. Ở Việt Nam, hoạt động du lịch văn hóa thường được tổ chức dựa trên những đặc điểm vùng miền: Du lịch Điện Biên( Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết 15 z hợp sự kiện chính trị: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ); con đường Di sản miền Trung( Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận)… là những hoạt động của du lịch văn hóa thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
Ngoài ra, du lịch văn hóa còn là đi tham quan thắng cảnh tự nhiên kết hợp tham quan di tích- di sản văn hóa. Ví dụ: Du lịch Lào Cai ngoài đến SaPa du khách vẫn kết hợp khám phá văn hóa nhiều dân tộc như H’Mông, Dao Đỏ, Thái…, mua thổ cẩm, thăm cửa khẩu Hà Khẩu; đến Quảng Ninh du khách sẽ tham quan hang Đầu Gỗ, núi Bài Thơ, tìm hiểu về sự hình thành Vịnh Hạ Long. Tóm lại, du lịch văn hóa chính là một loại hình của du lịch và được dựa trên việc khai thác các tài nguyên nhân văn để phục vụ cho hoạt động du lịch. Văn hóa du lịch được coi là hệ thống những ứng xử trong hoạt động khai thác và kinh doanh du lịch dựa trên các nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong hoạt động du lịch.
Đó chính là văn hóa do du khách và người làm công tác du lịch tích lũy được trong hoạt động du lịch. Tính văn hóa của du lịch được thể hiện ở quá trình thưởng thức du lịch. Ý thức của khách du lịch đối với nhu cầu du lịch thể hiện rõ trình độ văn hóa nhất định và nhu cầu xã hội về nhiều mặt của mọi người. Những quan niệm về giá trị, hình thức tư duy, tính thẩm mỹ, tính cách, tình cảm… sẽ được bộc lộ trong hoạt động du lịch và nó phản ánh tâm lý dân tộc.
Ngoài ra nó còn được thể hiện qua hành vi du lịch biết hướng tới cái đẹp, trân trọng và nâng niu cái đẹp. Tính văn hóa trong du lịch còn được thể hiện qua các giá trị mà tài nguyên du lịch có thể cung cấp cho du khách, những giá trị về thẩm mỹ vệ sinh, môi trường về khả năng nâng cao thể chất và tri thức cho du khách. Ví dụ một tài nguyên du lịch là một di tích lịch sử văn hóa, giá trị thẩm mỹ ở đây là phải trân trọng tính xác thực, việc trùng tu, tôn tạo làm biến dạng di tích, làm mất đi vẻ đẹp nguyên sơ ban đầu của nó, vi phạm tính nguyên gốc lịch sử 16 z của di tích đó có thể được coi là một hành vi không văn hóa. Điều đó không thu hút được khách du lịch đồng thời còn làm tổn hại đến hình ảnh của điểm du lịch, hình ảnh chung về nền văn hóa của quốc gia.
Văn hóa du lịch và một phạm trù rộng, thể hiện những giá trị văn hóa của toàn bộ hoạt động du lịch. Tất cả các sản phẩm du lịch cũng như hoạt động trong quá trình tạo dựng đều hướng tới nét đặc trưng riêng mang bản sắc văn hóa dân tộc, điều đó sẽ giúp hình thành nên một văn hóa du lịch đặc trưng cho đất nước.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch văn hóa Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa nhân văn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc đón tiếp khách du lịch. Đó là lòng hiếu khách của người làm du lịch và cư dân địa phương, các phong tục tập quán , di sản văn hóa, kiến trúc địa phương, lễ hội, ẩm thực, chợ địa phương… Quỹ thời gian nhàn rỗi của dân cư: Hiện nay quỹ thời gian nhàn rỗi của dân cư và người lao động đang có xu hướng tăng lên bởi Nhà nước ở hầu hết các nước đều thừa nhận quyền được nghỉ phép năm đối với người lao động. Người dân cũng có xu hướng sử dụng hữu ích thời gian nhàn rỗi tạo điều kiện đi du lịch nhiều hơn.
Yếu tố kinh tế- xã hội: Khi thu nhập cá nhân ngày càng tăng lên sẽ cho phép người dân đi du lịch ngày càng nhiều hơn và con người luôn mong muốn tìm hiểu cái hay, cái tốt bên ngoài xã hội. Yếu tố dân số: Nơi định cư, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, số lượng con cái… chi phối đáng kể việc quyết định các kỳ nghỉ và lựa chọn loại hình du lịch. Yếu tố sở thích: Mỗi một lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn… lại có những sở thích du lịch khác nhau: thanh niên thích du lịch mạo hiểm, khám phá; người trung niên thích du lịch kết hợp công việc; người già thích du lịch 17 z nghỉ dưỡng, chăm sóc đặc biệt; càng trình độ học vấn cao thì nhu cầu du lịch càng rõ. Cơ sở hạ tầng du lịch: gồm những công trình xây lắp ngầm như hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống xử lý nước thải, cáp điện…, những công trình xây lắp nổi trên mặt đất như đường cao tốc sân bay, đường bộ, đường xe lửa… Các khu nghỉ mát và khách sạn là yếu tố cũng quan trọng trong cơ sở hạ tầng du lịch.
Chúng cần phải được quy hoạch và xây dựng sao cho hài hòa với cảnh quan tự nhiên, với kiến trúc địa phương. Các loại hình vận chuyển du khách: máy bay, tàu, thuyền, ô tô, tàu hỏa và những phương tiện khác. Tổ chức, xúc tiến du lịch nơi nhận khách: Phát triển du lịch văn hóa, Nhà nước không chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt như thu nhập của ngành du lịch và nguồn thuế thu được từ du lịch mà còn quan tâm đến sự phát triển du lịch dài hạn như tiến hành công tác quy hoạch du lịch, lập quỹ phát triển du lịch, tham gia đào tạo nghề nghiệp du lịch, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng du lịch; kiểm soát hoạt động du lịch trong mối quan hệ với tài nguyên du lịch và bản sắc văn hóa dân tộc. Mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và hoạt động du lịch văn hóa.
Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 đã nêu rõ về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch [ 29, tr.