phần mở đầu; phần kết luận và khuyến nghị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề : Hoạt động liên kết đào tạo của các trường với đơn vị ngoài đã được nhiều nước tiên tiến trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời hiệu quả của hoạt động liên kết đào tạo đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho cả hai phía. Đối với các trường thì sản phẩm là học sinh tốt nghiệp ra trường có tay nghề cao, tiếp cận được với công nghệ thực tiễn của sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng để giữ vững thương hiệu, uy tín của nhà trường đồng thời giảm chi phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo.
Đối với các địa phương có thể chủ động về đội ngũ lao động và khi tiếp nhận lao động vào làm việc tại địa phương sẽ phù hợp, ổn định, không mất thời gian đào tạo lại do công nhân còn hạn chế về kỹ năng thực hành nghề và khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Đối với Việt Nam chúng ta, do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đặc biệt là những năm gần đây do sự chuyển biến của nền kinh tế thị trường từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Trong cơ chế thị trường nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, giá trị của sức lao động tuỳ thuộc vào trình độ tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Để nâng cao được chất lượng đào tạo nghề, đòi hỏi con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững kỹ năng thực hành nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Xuất phát từ những lý do trên mà hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và địa phương đã được nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ các nước tiên tiến trên thế giới và được vận dụng vào các chính sách của Việt Nam. Điều này được cụ thể hoá trong Luật giáo dục năm 2005, Luật Dạy nghề 2006, Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993, Điều lệ mẫu trường cao đẳng nghề năm 2008. Cụ thể: Điều 32. của Luật Dạy nghề đã nêu: “Dạy nghề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 thường xuyên được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm”.
Thực tế ở Việt Nam chúng ta từ những năm 1995 đến nay, thực hiện Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá công tác dạy nghề nên đã hình thành mô hình các tập đoàn, tổng công ty, công ty trực tiếp quản lý một số trường đào tạo nghề. Điển hình như Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ, Tổng công ty Thép Việt Nam v. Việc hình thành và phát triển các trường đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật trực tiếp sản xuất của doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội ở nước ta trong thời gian qua là tất yếu khách quan. Là nơi trực tiếp cung cấp lao động qua đào tạo nghề cho doanh nghiệp, phù hợp với nhu cầu thực tế sử dụng của doanh nghiệp, người học được thực hành ngay trên may móc, thiết bị đang được sử dụng ở doanh nghiệp và đặc biệt là các đào tạo cho các tỉnh miền núi theo chủ trương xã hội hoá.
Mặc dù có chủ trương, chính sách như vậy song ở nước ta cho đến nay thực trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và địa phương được đánh giá là vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ và có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề trên. Những nghiên cứu về liên kết đào tạo mới chỉ giới hạn trong ngành hoặc trong lĩnh vực hẹp. Ví dụ: Vào những năm 70 của thế kỷ XX, tác giả Đạng Danh Ánh và một số cán bộ thuộc Tổng cục dạy nghề lúc đó đã đi sâu nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy nghề trong các trường nghề. Năm 1993, tác giả Trần Khánh Đức nghiên cứu vấn đề "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp".
Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất và trong một số lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất. Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ đi sâu tìm hiểu: "Cơ sở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất". Năm 2004, trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng". Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên được thành lập từ năm 1965 thuộc Bộ Công nghiệp trước đây, từ năm 1997 đến nay thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam quản lý.
Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho Tổng công ty Thép Việt Nam và các ngành kinh tế khác của xã hội, Trường đào tạo 3 cấp trình độ đó là: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề các nghề Cơ, Điện và Luyện kim. Hoạt động liên kết đào tạo giữa trường với các tỉnh miền núi phía bắc mới được thực hiện trong một số năm gần đây (đặc biệt là từ năm 2008 đến nay) đã được triển khai và đạt được những kết quả nhất định. Để đánh giá thực trạng, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp để quản lý các hoạt động trên nhằm đạt kết quả cao hơn cần thiết phải có một nghiên cứu tổng hợp, khách quan. Chính vì vậy tôi chọn “Quản lý liên kết đào tạo nghề giữa Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các tỉnh miền núi phía Bắc” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Một số khái niệm cơ bản: 1. Khái niệm về quản lý: Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn. Sự phân công, hợp tác trong lao động giúp đạt năng suất cao trong công việc, điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra.tức là phải có người đứng đầu. Hoạt động quản lý được nảy sinh từ nhu cầu đó.Mác, quản lý (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động.
Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 thông qua quản lý (con người điều khiển con người). Ông coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội, theo ông: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội.
Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, dưới đây là một số nhận thức chung về khái niệm này. - Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (Người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (Đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị… - Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính v.v để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước. - Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội, đặc biệt là từ khi con người biết tiến hành những hoạt động lao động chung.
- Quản lý là một thuộc tính lịch sử, là nội tại của quá trình lao động, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm ngay từ khi xuất hiện xã hội loài người. Khi con người xuất hiện thì xuất hiện quản lý con người và quản lý xã hội. Marx: Bất kỳ một hoạt động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 định sự quản lý. Quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động riêng rẽ của nó.
Marx so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng với hệ thống nhạc công. Trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là những chủ thể bị quản lý. Nhạc trưởng và nhạc công có quan hệ quản lý (Quan hệ về công việc và quan hệ con người) để đưa một sản phẩm “Kép”, một sản phẩm siêu sản phẩm. Đó là chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý cùng phát triển (Hoạt động tạo ra của chủ thể và sự phát triển của con người).
Những tư tưởng bàn về quản lý xã hội đã xuất hiện rất sớm ở cả Phương đông lẫn Phương tây. Song quản lý chỉ trở thành khoa học và được vận dụng vào thực tiễn có tính chất phổ biến chỉ mới bắt đầu vào thập niên đầu của thế kỷ XX (Vào năm 1911 khi Taylor nhà tâm lý học, quản lý học người Mỹ công bố tác phẩm nổi tiếng: Những nguyên lý quản lý khoa học).