Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 1.1 Một số vấn đề lý luận về lao động là người khuyết tật 1.1 Khái niệm về lao động là người khuyết tật So với thế giới thì Việt Nam tiếp cận vấn đề lao động cho người khuyết tật dưới góc độ pháp lý tương đối muộn hơn. Một phần nguyên nhân xuất phát từ tiến trình lịch sử của dân tộc khi mà chúng ta chỉ mới trải qua hơn bốn mươi năm kể từ khi thiết lập nền hòa bình đất nước, xây dựng lại nền kinh tế đổ nát sau hai cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc. Với xuất phát điểm chậm đó, là một quốc gia đi sau nên quá trình xây dựng hệ thống pháp luật trong nước gặp được thuận lợi là có điều kiện tiếp thu, học hỏi những giá trị, kinh nghiệm của bạn bè quốc tế. Qua đó rút ra được những bài học, kinh nghiệm quý báu cho hoạt động lập pháp trong vấn đề quy định về người khuyết tật nói chung và vấn đề lao động đối với người lao động khuyết tật nói riêng.
Trong khoa học pháp lý, tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 qui định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Như vậy, không phải mọi công dân đều có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách là người lao động. Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động thì công dân hoặc cá nhân ấy phải thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, những điều kiện ấy trong khoa học pháp lý gọi là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân quyền có việc làm, được làm việc, được hưởng quyền và có thể thực hiện nghĩa vụ của người lao động.
Còn năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân 10 mình tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của người lao động. Vì vậy, đối với lao động là người khuyết tật, trước tiên họ phải là người mang đầy đủ các yếu tố của người lao động bình thường. Ngoài ra, đối tượng này còn có những đặc điểm riêng về mặc thể chất, trí lực mà qua đó chúng ta có thể phân biệt giữa lao động là người khuyết tật với các lực lượng lao động khác. Do vậy, cần thiết phải hiểu nội hàm của khái niệm người khuyết tật.
Theo Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 thì “Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. Ở Đức, sách số Chín của Bộ luật Xã hội năm 2002 định nghĩa: Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội1. Trong qui định tại Điều 2 Luật Bảo vệ người khuyết tật của Trung Quốc ban hành năm 1990 đưa ra định nghĩa như sau: Người khuyết tật là người bị mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật hoặc các dạng khuyết tật khác2. Tại Việt Nam, trước khi Pháp lệnh về người tàn tật chưa được thay thế bằng luật và đang còn có hiệu lực thi hành thì chúng ta chưa có khái niệm pháp lý về người khuyết tật mà đối tượng này được gọi dưới tên là người tàn tật.
Về cơ bản thì hai khái niệm này không khác nhau, đều dùng để mô tả người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận, chức năng của cơ thể gây ảnh hưởng đến 1 Văn phòng tổ chức Lao động quốc tế (2006), Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, tài liệu hướng dẫn, tr. 2 Văn phòng tổ chức Lao động quốc tế, (2006), Tlđd số 1, tr. 11 khả năng sinh hoạt, lao động bình thường của các cá nhân này trong cuộc sống. Tuy nhiên, thuật ngữ này không nhận được sự đồng tình của bộ phận người khuyết tật bởi họ rằng cho từ “tàn tật” mang yếu tố tiêu cực, tạo cảm giác không còn khả năng lao động, không có tương lai do đó nó có ảnh hưởng không tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khó cũng như cách nhìn nhận của xã hội, nhà tuyển dụng đối với bản thân họ.
Với ý nghĩa trên thì Luật Người khuyết tật năm 2010 ra đời thay thế cho Pháp lệnh về người tàn tật trước đây đã đưa ra khái niệm về người khuyết tật như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”3. Khái niệm này đã đề cập khá hoàn chỉnh và sát với các dấu hiệu của người khuyết tật cũng như là đã có sự tiệm cận với quan điểm của quốc tế về đối tượng này. Các quốc gia trên thế giới cũng đưa ra các định nghĩa về lao động là người khuyết tật, qua đó nhằm xác định, làm rõ đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực này. Trong Bộ luật Lao động của Philippin năm 1974 khẳng định: Người lao động khuyết tật là những người mà khả năng kiếm sống của họ bị tổn hại do tuổi tác hoặc khiếm khuyết hoặc thương tật về thể chất hoặc tinh thần4.
Trong Luật Bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa người lao động khuyết tật là “người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”5 Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Điều 1 của Nghị định 116/2004/NĐ- CP ngày 23/4/2004 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật đưa ra khái niệm: “Lao động là người tàn 3 Khoản 1, Điều 2, Luật Người khuyết tật 2010. 4 Vụ pháp chế (2010), Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. 162 5 Hội người mù huyện Mê Linh, “Tìm hiểu về luật Người khuyết tật” https://hnmmelinh.com/nguoi-mu-do-day/ (truy cập ngày 11/02/2016). 12 tật là người lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ y tế”.
Từ những phân tích về người lao động nói chung trong xã hội và các khái niệm về người khuyết tật, lao động là người khuyết tật của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về lao động là người khuyết tật như sau: “Lao động là người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc một số bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khác nhau, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo qui định của Bộ Y tế và đồng thời đang tham gia vào trong quan hệ lao động”.2 Đặc điểm về lao động là người khuyết tật Trong quan hệ xã hội nói chung và quan hệ lao động nói riêng, chúng ta có những đối tượng đặc thù mà ngoài các mẫu số chung với lao động bình thường khác thì họ còn mang một số các yếu tố riêng mà nó ít nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến việc tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội và lao động của các đối tượng đó như: Người chưa thành niên, người khuyết tật, phụ nữ, người cao tuổi, người nước ngoài… Do vậy, những đối tượng này cần thiết phải nhận được quan tâm từ phía Nhà nước, cộng đồng cũng như sự điều chỉnh từ mặt pháp luật để có thể phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng lao động này cũng như bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Trong số các thành phần lao động đặc thù đó, người khuyết tật là đối tượng kém may mắn nhất, gặp nhiều khó khăn nhất khi tham qia vào quan hệ lao động bởi những yếu tố, đặc điểm về mặt tâm sinh lý, sức khỏe, cũng như thái độ nhìn nhận của xã hội, của nhà tuyển dụng đối với người khuyết tật. Chính những điều này đã tạo ra những rào cản lớn gây ra các cản trở cho người khuyết tật 13 trong quá trình tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống nhiều hơn so với những thành phần lao động khác.1 Đặc điểm về mặt tâm sinh lý Người khuyết tật trước hết là những con người, những chủ thể độc lập nên họ mang những đặc điểm chung về tâm sinh lý như mọi cá thể khác trong xã hội. Tuy nhiên bởi các yếu tố riêng có được nêu trong phần khái niệm về lao động là người khuyết tật nên có thể thấy nhóm người khuyết tật sẽ có những nét đặc thù về mặt tâm sinh lý khác biệt so với nhóm người không khuyết tật.
Việc hạn chế trong vấn đề thể lực, trí lực, sự suy giảm của các chức năng cơ thể khiến lao động là người khuyết tật thường mang trong mình tâm lý mặc cảm, e dè và thường chọn lối sống khép kín, ít giao tiếp và hòa nhập vào cộng đồng. Nguyên nhân của trạng thái tâm lí này là bởi người khuyết tật thường có xu hướng cho rằng bản thân là gánh nặng của gia đình, xã hội.