Pháp luật về lao động và quyền lợi của người khuyết tật

Chuyên khảo luật học phân tích Pháp luật về lao động là người khuyết tật, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

1.1. Một số vấn đề lý luận về lao động là người khuyết tật

1.2. Khái niệm về lao động là người khuyết tật

1.3. Đặc điểm về lao động là người khuyết tật

1.4. Pháp luật điều chỉnh về lao động là người khuyết tật

1.4.1. Sự cần thiết của việc điều chỉnh pháp luật về lao động là người khuyết tật

1.4.2. Khái niệm pháp luật về lao động là người khuyết tật

1.4.3. Nội dung pháp luật về lao động là người khuyết tật trong mối tương quan với pháp luật một số nước trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng pháp luật hiện hành về lao động là người khuyết tật

2.1.1. Địa vị pháp lý của lao động là người khuyết tật

2.1.2. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với lao động là người khuyết tật

2.1.3. Quản lý nhà nước về lao động là người khuyết tật

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động là người khuyết tật tại Việt Nam

2.2.1. Kết quả đạt được

2.2.2. Hạn chế tồn tại

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về lao động là người khuyết tật

3.2. Các yêu cầu hoàn thiện

3.3. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi về lao động là người khuyết tật

3.3.1. Một số giải pháp đề ra nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động là người khuyết tật

3.3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về lao động là người khuyết tật

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lao động và quyền lợi của người khuyết tật tại Việt Nam

Lao động là một phần quan trọng trong cuộc sống của mọi người, đặc biệt là đối với người khuyết tật. Tại Việt Nam, quyền lợi của người khuyết tật trong lĩnh vực lao động đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện các quyền này. Việc hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của người khuyết tật trong lao động là rất cần thiết để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của lao động là người khuyết tật

Người khuyết tật được định nghĩa là những người có khiếm khuyết về thể chất hoặc trí tuệ, ảnh hưởng đến khả năng tham gia lao động. Đặc điểm này tạo ra những thách thức riêng trong việc tìm kiếm việc làm và bảo vệ quyền lợi của họ.

1.2. Chính sách lao động cho người khuyết tật tại Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ người khuyết tật trong việc tìm kiếm việc làm. Các chính sách này bao gồm đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật tham gia vào thị trường lao động.

II. Thách thức trong việc thực hiện quyền lợi của người khuyết tật

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng người khuyết tật vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện quyền lợi lao động. Những rào cản về tâm lý xã hội, sự thiếu hiểu biết của người sử dụng lao động và các quy định pháp luật chưa hoàn thiện là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Rào cản tâm lý xã hội đối với người khuyết tật

Nhiều người sử dụng lao động vẫn còn có định kiến về khả năng làm việc của người khuyết tật. Điều này dẫn đến việc họ không được tuyển dụng hoặc bị phân biệt trong môi trường làm việc.

2.2. Thiếu hụt thông tin và hỗ trợ từ chính quyền

Nhiều người khuyết tật không biết đến các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Sự thiếu hụt thông tin này làm giảm khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ và cơ hội việc làm.

III. Giải pháp nâng cao quyền lợi cho người khuyết tật trong lao động

Để nâng cao quyền lợi cho người khuyết tật trong lao động, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính phủ, doanh nghiệp và xã hội. Việc cải thiện nhận thức, tăng cường đào tạo nghề và tạo ra môi trường làm việc thân thiện là những yếu tố quan trọng.

3.1. Tăng cường đào tạo nghề cho người khuyết tật

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng giúp người khuyết tật có thể tham gia vào thị trường lao động. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ.

3.2. Cải thiện môi trường làm việc cho người khuyết tật

Doanh nghiệp cần tạo ra môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ cho người khuyết tật. Điều này không chỉ giúp họ hòa nhập mà còn nâng cao hiệu quả công việc.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về lao động và quyền lợi của người khuyết tật tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc thực hiện còn nhiều hạn chế. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và xã hội để đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật.

4.1. Kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách

Một số kết quả tích cực đã được ghi nhận trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ người khuyết tật. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải thiện để đạt được hiệu quả cao hơn.

4.2. Hạn chế và bài học kinh nghiệm

Hạn chế trong việc thực hiện chính sách vẫn còn tồn tại. Cần rút ra bài học kinh nghiệm để cải thiện các chính sách trong tương lai.

V. Tương lai của lao động và quyền lợi của người khuyết tật tại Việt Nam

Tương lai của người khuyết tật trong lao động tại Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong nhận thức xã hội, cải cách chính sách và sự hỗ trợ từ cộng đồng. Việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng cho người khuyết tật là mục tiêu cần hướng tới.

5.1. Xu hướng phát triển chính sách hỗ trợ người khuyết tật

Dự báo rằng trong tương lai, các chính sách hỗ trợ người khuyết tật sẽ được cải thiện và mở rộng hơn nữa, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của họ.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc hỗ trợ người khuyết tật

Cộng đồng cần đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ người khuyết tật, từ việc nâng cao nhận thức đến việc tạo ra các cơ hội việc làm cho họ.

15/07/2025
Pháp luật về lao động là người khuyết tật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 1.1 Một số vấn đề lý luận về lao động là người khuyết tật 1.1 Khái niệm về lao động là người khuyết tật So với thế giới thì Việt Nam tiếp cận vấn đề lao động cho người khuyết tật dưới góc độ pháp lý tương đối muộn hơn. Một phần nguyên nhân xuất phát từ tiến trình lịch sử của dân tộc khi mà chúng ta chỉ mới trải qua hơn bốn mươi năm kể từ khi thiết lập nền hòa bình đất nước, xây dựng lại nền kinh tế đổ nát sau hai cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc. Với xuất phát điểm chậm đó, là một quốc gia đi sau nên quá trình xây dựng hệ thống pháp luật trong nước gặp được thuận lợi là có điều kiện tiếp thu, học hỏi những giá trị, kinh nghiệm của bạn bè quốc tế. Qua đó rút ra được những bài học, kinh nghiệm quý báu cho hoạt động lập pháp trong vấn đề quy định về người khuyết tật nói chung và vấn đề lao động đối với người lao động khuyết tật nói riêng.

Trong khoa học pháp lý, tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 qui định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Như vậy, không phải mọi công dân đều có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách là người lao động. Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động thì công dân hoặc cá nhân ấy phải thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, những điều kiện ấy trong khoa học pháp lý gọi là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân quyền có việc làm, được làm việc, được hưởng quyền và có thể thực hiện nghĩa vụ của người lao động.

Còn năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân 10 mình tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của người lao động. Vì vậy, đối với lao động là người khuyết tật, trước tiên họ phải là người mang đầy đủ các yếu tố của người lao động bình thường. Ngoài ra, đối tượng này còn có những đặc điểm riêng về mặc thể chất, trí lực mà qua đó chúng ta có thể phân biệt giữa lao động là người khuyết tật với các lực lượng lao động khác. Do vậy, cần thiết phải hiểu nội hàm của khái niệm người khuyết tật.

Theo Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 thì “Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. Ở Đức, sách số Chín của Bộ luật Xã hội năm 2002 định nghĩa: Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội1. Trong qui định tại Điều 2 Luật Bảo vệ người khuyết tật của Trung Quốc ban hành năm 1990 đưa ra định nghĩa như sau: Người khuyết tật là người bị mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật hoặc các dạng khuyết tật khác2. Tại Việt Nam, trước khi Pháp lệnh về người tàn tật chưa được thay thế bằng luật và đang còn có hiệu lực thi hành thì chúng ta chưa có khái niệm pháp lý về người khuyết tật mà đối tượng này được gọi dưới tên là người tàn tật.

Về cơ bản thì hai khái niệm này không khác nhau, đều dùng để mô tả người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận, chức năng của cơ thể gây ảnh hưởng đến 1 Văn phòng tổ chức Lao động quốc tế (2006), Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, tài liệu hướng dẫn, tr. 2 Văn phòng tổ chức Lao động quốc tế, (2006), Tlđd số 1, tr. 11 khả năng sinh hoạt, lao động bình thường của các cá nhân này trong cuộc sống. Tuy nhiên, thuật ngữ này không nhận được sự đồng tình của bộ phận người khuyết tật bởi họ rằng cho từ “tàn tật” mang yếu tố tiêu cực, tạo cảm giác không còn khả năng lao động, không có tương lai do đó nó có ảnh hưởng không tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khó cũng như cách nhìn nhận của xã hội, nhà tuyển dụng đối với bản thân họ.

Với ý nghĩa trên thì Luật Người khuyết tật năm 2010 ra đời thay thế cho Pháp lệnh về người tàn tật trước đây đã đưa ra khái niệm về người khuyết tật như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”3. Khái niệm này đã đề cập khá hoàn chỉnh và sát với các dấu hiệu của người khuyết tật cũng như là đã có sự tiệm cận với quan điểm của quốc tế về đối tượng này. Các quốc gia trên thế giới cũng đưa ra các định nghĩa về lao động là người khuyết tật, qua đó nhằm xác định, làm rõ đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực này. Trong Bộ luật Lao động của Philippin năm 1974 khẳng định: Người lao động khuyết tật là những người mà khả năng kiếm sống của họ bị tổn hại do tuổi tác hoặc khiếm khuyết hoặc thương tật về thể chất hoặc tinh thần4.

Trong Luật Bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa người lao động khuyết tật là “người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”5 Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Điều 1 của Nghị định 116/2004/NĐ- CP ngày 23/4/2004 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật đưa ra khái niệm: “Lao động là người tàn 3 Khoản 1, Điều 2, Luật Người khuyết tật 2010. 4 Vụ pháp chế (2010), Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. 162 5 Hội người mù huyện Mê Linh, “Tìm hiểu về luật Người khuyết tật” https://hnmmelinh.com/nguoi-mu-do-day/ (truy cập ngày 11/02/2016). 12 tật là người lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ y tế”.

Từ những phân tích về người lao động nói chung trong xã hội và các khái niệm về người khuyết tật, lao động là người khuyết tật của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về lao động là người khuyết tật như sau: “Lao động là người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc một số bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khác nhau, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo qui định của Bộ Y tế và đồng thời đang tham gia vào trong quan hệ lao động”.2 Đặc điểm về lao động là người khuyết tật Trong quan hệ xã hội nói chung và quan hệ lao động nói riêng, chúng ta có những đối tượng đặc thù mà ngoài các mẫu số chung với lao động bình thường khác thì họ còn mang một số các yếu tố riêng mà nó ít nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến việc tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội và lao động của các đối tượng đó như: Người chưa thành niên, người khuyết tật, phụ nữ, người cao tuổi, người nước ngoài… Do vậy, những đối tượng này cần thiết phải nhận được quan tâm từ phía Nhà nước, cộng đồng cũng như sự điều chỉnh từ mặt pháp luật để có thể phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng lao động này cũng như bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Trong số các thành phần lao động đặc thù đó, người khuyết tật là đối tượng kém may mắn nhất, gặp nhiều khó khăn nhất khi tham qia vào quan hệ lao động bởi những yếu tố, đặc điểm về mặt tâm sinh lý, sức khỏe, cũng như thái độ nhìn nhận của xã hội, của nhà tuyển dụng đối với người khuyết tật. Chính những điều này đã tạo ra những rào cản lớn gây ra các cản trở cho người khuyết tật 13 trong quá trình tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống nhiều hơn so với những thành phần lao động khác.1 Đặc điểm về mặt tâm sinh lý Người khuyết tật trước hết là những con người, những chủ thể độc lập nên họ mang những đặc điểm chung về tâm sinh lý như mọi cá thể khác trong xã hội. Tuy nhiên bởi các yếu tố riêng có được nêu trong phần khái niệm về lao động là người khuyết tật nên có thể thấy nhóm người khuyết tật sẽ có những nét đặc thù về mặt tâm sinh lý khác biệt so với nhóm người không khuyết tật.

Việc hạn chế trong vấn đề thể lực, trí lực, sự suy giảm của các chức năng cơ thể khiến lao động là người khuyết tật thường mang trong mình tâm lý mặc cảm, e dè và thường chọn lối sống khép kín, ít giao tiếp và hòa nhập vào cộng đồng. Nguyên nhân của trạng thái tâm lí này là bởi người khuyết tật thường có xu hướng cho rằng bản thân là gánh nặng của gia đình, xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lao động và quyền lợi của người khuyết tật tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình lao động và quyền lợi của người khuyết tật trong xã hội hiện nay. Nó nêu bật những thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt trong việc tìm kiếm việc làm, cũng như các chính sách và quy định pháp luật hỗ trợ họ. Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra những lợi ích mà việc bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật mang lại cho cả xã hội, như sự đa dạng trong lực lượng lao động và sự phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo vệ hỗ trợ người khuyết tật và thực tiễn thực hiện, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ người khuyết tật. Ngoài ra, tài liệu Pháp luật về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật ở việt nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách việc làm dành cho người khuyết tật. Cuối cùng, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động và thực tiễn thực hiện tại tỉnh đồng nai cũng mang lại cái nhìn về quyền lợi của người lao động trong bối cảnh pháp luật hiện hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền lợi và thách thức của người khuyết tật trong lĩnh vực lao động tại Việt Nam.