CHƯƠNG 1 6 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM 1. Khái quát chung về lao động chưa thành niên: 1. Khái niệm về lao động chưa thành niên: Trên thế giới, khái niệm “người chưa thành niên” được nhìn nhận và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, phụ thuộc vào lối tư duy, quan niệm và hệ thống pháp luật của từng quốc gia hay vùng lãnh thổ. Trong một số trường hợp, cụm từ này được đồng nhất với khái niệm “trẻ em”1, cụ thể Điều 2 Công ước số 182 (1999) về Những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất của ILO quy định rằng “thuật ngữ “trẻ em” được áp dụng cho tất cả những ai dưới 18 tuổi”, hay Điều 7 Công ước số 138 (1973) về Tuổi lao động tối thiểu của ILO đã đặt ra những ngoại lệ nhất định về độ tuổi lao động đối với trẻ em trong trường hợp công việc nhẹ, đảm bảo đáp ứng các điều kiện nhất định tại Khoản 1 Điều 7 Công ước này trên cơ sở điều chỉnh hệ thống pháp luật của các Quốc gia thành viên.
Từ đó có thể thấy, khái niệm “trẻ em” trên thế giới hiện nay thường được xác định trên cơ sở độ tuổi mà không đi kèm các điều kiện khác về thể chất, năng lực hay trình độ nhận thức; nói cách khác, người chưa thành niên dưới góc nhìn của Tổ chức Lao động quốc tế là những cá nhân đạt độ tuổi tối đa là 18 tuổi và mức tối thiểu được ấn định theo quan điểm xây dựng pháp luật của từng Quốc gia thành viên phê chuẩn các Công ước của ILO. Tại Việt Nam, Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 định nghĩa: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”; theo đó, pháp luật Việt Nam cũng có những nét tương đồng nhất định với ILO khi quan niệm người chưa thành niên dựa trên độ tuổi tối đa là 18. Mặt khác, hiểu theo nghĩa hẹp, trên cơ sở quy định về người thành niên tại Khoản 2 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể thấy khái niệm này tồn tại song song và gắn liền với những đặc điểm riêng về năng lực hành vi dân sự - khả năng của mỗi cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự; cụ thể, người chưa thành niên là người chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự này, thể hiện qua việc họ cần sự hỗ trợ, đồng thuận và đại diện của người giám hộ trong các giao dịch dân sự nói chung, tuỳ theo nhóm độ tuổi mà pháp luật dân sự và pháp luật lao động quy định. Những nhà làm luật Việt Nam đã thể hiện rõ ràng sự tiến bộ trong quá trình xây dựng các quy định pháp luật về người chưa thành niên trên cơ sở tiếp thu quan điểm và kiến 1 Hứa Thuỳ Nga (2014), Pháp luật về lao động chưa thành niên-Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.
7 thức từ hệ thống pháp luật quốc tế, thông qua việc gắn liền khái niệm người chưa thành niên với nét đặc trưng về thể chất và năng lực. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân là người chưa thành niên đều nghiễm nhiên được coi là người lao động chưa thành niên, bởi họ phải đáp ứng những điều kiện nhất định của một người lao động và kết hợp với yếu tố độ tuổi để trở thành một trong những nhóm lao động đặc thù theo quy định của pháp luật lao động. Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động là “người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này.” Theo đó, khi thoả mãn những điều kiện cơ bản tại Khoản 1 Điều 3 nêu trên bao gồm: có thoả thuận làm việc, được trả lương và làm việc dưới sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động, một cá nhân bước đầu được coi là người lao động hợp pháp.
Bên cạnh đó, tuy đặt ra giới hạn về độ tuổi tối thiểu là 15 tuổi, Bộ luật Lao động năm 2019 vẫn mở ra ngoại lệ cho nhóm chủ thể này khi quy định những nội dung đối với người lao động có độ tuổi dưới mức tối thiểu. Có thể thấy, khái niệm “người lao động” trong Bộ luật mới có sự khác biệt đáng kể so với quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Theo quy định tại Bộ luật này, người lao động được xác định gắn liền với yếu tố “có khả năng lao động” và “làm việc trên cơ sở hợp đồng lao động”; những điều kiện này đã được lược bỏ và tối giản trong Bộ luật Lao động mới, cụ thể người lao động không bắt buộc có khả năng lao động và cơ sở xác định quan hệ lao động giữa các bên là sự thoả thuận. Trên thực tế, khái niệm mới này không chỉ thể hiện tinh thần “tôn trọng thoả thuận giữa các bên” của pháp luật lao động, mà còn tạo nên những thuận lợi nhất định đối với người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng lao động. Trên cơ sở định nghĩa thuật ngữ “người lao động” nêu trên, Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định về người lao động chưa thành niên tại Khoản 1 Điều 143 là: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi.”, nói cách khác, mọi cá nhân là người lao động có độ tuổi dưới 18 tuổi đều được coi là lao động chưa thành niên.
Điều 143 này cũng đồng thời quy định những điều kiện bắt buộc thực hiện về danh mục công việc, nơi làm việc giới hạn đối với lao động chưa thành niên theo từng nhóm độ tuổi gồm: (i) từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi; (ii) từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và (iii) 8 chưa đủ 13 tuổi. Các quy định này được xây dựng trên cơ sở đặc điểm riêng về thể chất, năng lực và tinh thần của người lao động ở từng độ tuổi, cũng như tác động của công việc và môi trường làm việc tới sự phát triển toàn diện, lâu dài của người lao động chưa thành niên. Mặt khác, sự khác biệt về nội dung và cách thức quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 đã thể hiện chủ đích và tính tiến bộ của hệ thống pháp luật lao động Việt Nam. Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 xác định “người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi.” Việc thay thế “dưới 18 tuổi” bằng cụm từ “chưa đủ 18 tuổi” khi đề cập tới độ tuổi của người lao động chưa thành niên tại Điều 143 đã nhấn mạnh tính “chưa đủ” không chỉ về số tuổi, mà cả về thể chất, tinh thần và năng lực hành vi của người lao động chưa thành niên, từ đó làm nổi bật đặc điểm riêng nhằm phân biệt nhóm lao động này với người lao động thành niên.
Bên cạnh đó, nội dung về hạn chế công việc, nơi làm việc được sử dụng người lao động chưa thành niên đặt tại Điều đầu tiên của Mục 1 về Lao động chưa thành niên cũng thể hiện sự ưu tiên và tập trung thắt chặt hơn nữa những quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm lao động này. Trên cơ sở phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chung về người lao động chưa thành niên, là “người chưa đủ 18 tuổi, làm việc cho người sử dụng lao động theo thoả thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”; đồng thời, người lao động chưa thành niên buộc phải làm việc theo danh mục công việc và nơi làm việc phù hợp với độ tuổi mà pháp luật lao động quy định, nhằm bảo đảm hạn chế tối đa những tác nhân ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của người lao động. Hiện nay pháp luật Việt Nam không quy định về khái niệm “lao động trẻ em” theo quan điểm của ILO hay một số quốc gia trên thế giới; tuy nhiên căn cứ định nghĩa tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 sửa đổi, bổ sung năm 2018, trẻ em là “người dưới 16 tuổi”, chúng ta có thể ngầm hiểu nếu trẻ em đáp ứng những điều kiện trở thành người lao động tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động trẻ em sẽ đương nhiên trở thành một bộ phận của lao động chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam. Đặc điểm lao động chưa thành niên: Khái niệm về người lao động chưa thành niên trên đây đã nhấn mạnh nhóm lao động này bao gồm những người chưa đủ 18 tuổi, do đó người lao động chưa thành niên sẽ mang những đặc trưng về thể chất, năng lực cũng như nhận thức do sự phát triển chưa toàn diện ở độ tuổi của mình; bao gồm: 9 Thứ nhất, là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tâm sinh lí và nhận thức2.
Về thể chất, phát triển toàn diện thể hiện ở sự hoàn thiện về chiều cao, cơ bắp, trọng lượng, sự trọn vẹn trong chức năng của các giác quan,…. Nói cách khác, người lao động trong độ tuổi này đang trải qua quá trình phát triển nhanh về thể chất và cần được đảm bảo những điều kiện khách quan có lợi nhất về học tập, môi trường, dinh dưỡng,…. để quá trình này diễn ra thuận lợi. Theo đó, nếu tham gia những công việc nặng nhọc, tiếp xúc với các yếu tố độc hại tại nơi làm việc hay vượt quá khả năng đáp ứng của cơ thể, người lao động chưa thành niên có thể bị hạn chế, làm chậm quá trình phát triển, gây ra những biến chứng khó lường về thể chất và ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng lao động của các em sau này.
Về tâm sinh lí và nhận thức, người lao động chưa thành niên cũng đồng thời có những biến đổi về tâm lý, còn được hiểu là giai đoạn chuyển giao từ “trẻ con” sang “người lớn”.