CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây Rau Má 1. Tên gọi - Tên khoa học: Centella asitica (L. - Tên nước ngoài: Gotu Kola (Anh), Brahmi (Ấn Độ), Phanok (Vientian), Centelle, Besvillacque (Pháp), Trachie Ktranh (Campuchia) [2], Asiatischer Wassernabel (Đức), Luei Gong Gen (Trung Quốc),… - Tên tiếng Việt: Rau Má, Tich tuyết thảo, Liên tiền thảo [7] 1.
Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại của Takhtajan [8], cây Rau má thuộc chi Centella (L.) Urban, một chi nằm trong họ Hoa tán (Apiaccae). Vị trí phân loại của loài Centella asiatica (L.) Urb trong hệ thống phân loại có thể tóm tắt như sau: Giới: Thực vật Ngành: Ngọc Lan (Magoliopshyta) Lớp: Ngọc Lan (Magoliopsida) Bộ: Nhân sâm (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaccae) Chi: Centella asiatica (L.) Urban Theo Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Bộ [7], chi Centella (L.) Urban ở Việt Nam chỉ có một loài, C. asiatica, trong khi đó chi Centella (L.) Urban trên thế giới có hơn 50 loài theo The plant list đã được công nhận. Đặc điểm thực vật Rau má là một loài cây thân thảo, cao 7–10 cm, tuy nhiên một số cây có thể cao lên tới 25 cm [9].
Thân mảnh, mọc bò, hơi có lông khi còn non, bén rễ ở các mấu. Thân phân nhánh nhiều trên mặt đất, thân gầy, nhẵn Lá mọc so le, nhưng thường tụ họp 2–5 cái ở một đốt thân, phiến lá nhẵn, hình thận hoặc gần tròn, mép khía tai bèo, rộng 2-4 cm; cuống lá mảnh, dài 2-4 cm trong những nhánh mang hoa và dài đến 10-12 cm trong những nhánh thường [10]. Cụm hoa gồm những tán đơn mọc riêng lẻ ở kẽ lá, mỗi tán mang 1–5 hoa (thường là 3) màu trắng hoặc phớt đỏ. Hoa giữa không có cuống, tổng bao có 2–3 mảnh hình trái xoan, lõm, dạng màng; cánh hoa hình tam giác hoặc trái xoan; nhị có chỉ nhị ngắn, bao 2 phấn hình mắt chim; bầu hình cầu [11].
Các hoa lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3mm), với thùy tràng hoa. Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy. Quả dẹt, rộng 3-5 cm có sống hơi rõ, màu nâu đen, đỉnh lõm, có 7- 9 cạnh lồi, nhẵn hoặc có lông nhỏ, có vân mạng [11]. Đây là điểm phân biệt nó với các loài trong chi Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn cơm.
Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng. Chúng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ [6]. (2) (3) (4) (1) Chú thích ảnh: 1. Đặc điểm thực vật cây Rau má [12] Toàn cây khi tươi có vị đắng, hăng hơi khó chịu, khi khô thì chỉ còn mùi cỏ khô.
Sinh thái: Cây mọc thành đám trên các bãi hoang, bờ ruộng, ven đường, dọc đường sắt, nơi ẩm mát, mùa ra quả kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6. Phân bố và sinh thái Chi Centella (L.) Urban phân bố tập trung ở vùng Bắc Phi, còn loài Centella asiatica (L.) chỉ thấy ở vùng nhiệt đới Nam và Đông Nam Á, các tỉnh Nam Trung Quốc bao gồm cả đảo Hải Nam [11]. Ở Việt Nam, Rau má là loại cây rất quen thuộc. Cây mọc tự nhiên khắp nơi, từ vùng hải đảo, ven biển đến vùng núi, độ cao dưới 1800 m.
Ở một số nơi thuộc vùng Nam và Đông Nam Á, Rau má phân bố đến độ cao 2500 m. Cây ưa ẩm, hơi chịu bóng; thường mọc thành đám ở vườn, bãi sông suối, nương rẫy, bờ ruộng cao và ven rừng. Rau má sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, đến mùa đông (ở miền Bắc) hay mùa khô (ở miền Nam), cây có hiện tượng bán tàn lụi. Cây ra hoa và quả nhiều vào cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.
Do có khả năng đẻ nhánh khỏe, cây rau má thường mọc thành từng đám dày đặc nên lấn áp các loài cỏ khác [11]. Do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng ở nhiều nước như Madagasca, Sri lanka, Philippin và miền Nam Việt Nam, người ta đã tiến hành trồng rau má để làm thuốc hoặc nước giải khát. Ở Việt Nam, cây rau má chủ yếu mới được khai thác sử dụng tại chỗ [11]. Bộ phận dùng Bộ phận dùng của rau má là toàn cây.
Rau má có thể thu hái quanh năm. Để làm thuốc, rau má thường dùng tươi hoặc sao vàng [6]. Ngoài ra, rau má cũng được sử dụng như loại rau thường ngày. Rau má được dùng xay nhỏ hay giã nát, lọc lấy nước, thêm đường làm nước giải khát, tiêu độc [13].
Thành phần hóa học Rau má chứa nhiều hợp chấp có hoạt tính sinh học như các saponin triterpenoid, các phytosterol, tinh dầu (vallerrin, camphor, cineol), các khoáng chất (Ca, Fe, Mg, Mn, P, Zn…), các loại Vitamin (B1, B2, B3, C và K), amino acid cần thiết (glutamic, serin, threonin, alanin, lysin, histidin), tanin và alkaloid có tên là hydrooctylin [14]. Triterpenoid Đây là thành phần chính và quan trọng nhất của rau má, được dùng làm chất đối chiếu hay “dấu vân tay” của rau má trong lĩnh vực kiểm nghiệm. Các triterpenoid có cấu trúc là dẫn chất pentacyclic nhóm ursan và oleanan, gồm 4 chất chính là asiaticosid, madecassosid, acid asiatic và acid madecassic, ngoài ra còn có triterpenoid khác như asiaticosid (B, C, D, E, F), brahmosid, brahminosid, thankunisid, isothankunisid,… [11]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dược liệu rau má phải đảm bảo không chứa dưới 2% tổng lượng triterpenoid ester glycosid (asiaticosid và madecassosid)[15].
4 Trong nghiên cứu của Brinkhaus (2000) cho thấy hàm lượng saponin triterpenoid trong rau má dao động từ 1% đến 8% tùy vào vùng canh tác và thời điểm thu hái. Các hợp chất được phát hiện bao gồm: asiaticosid, centelloside, madecassosid, brahmoside, brahminoside, thankuniside, sceffoleoside, centellose, cùng với các axit triterpenoid như axit asiatic, axit brahmic, axit centellic và axit madecassic. Tuy nhiên, bốn hợp chất chiếm tỷ lệ lớn nhất vẫn là asiaticosid, madecassosid, acid asiatic và acid madecassic [1]. Flavonoid Bên cạnh nhóm chất chính triterpenoid, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra trong rau má còn chứa phong phú các hợp chất flavonoid.
Zainol và cộng sự (2003) đã phân lập thành công 5 flavonoid từ rau má, đó là quercetin, kaempferol, catechin, rutin và naringin. Những hợp chất này thuộc nhóm polyphenolic và đóng vai trò quan trọng trong tác dụng chống oxy hóa cũng như khả năng ngăn chặn gốc tự do của dịch chiết rau má [16]. Trong khi đó, Matsuda và cộng sự (2001) đã phân lập được flavonol có tên là petuletin và kaempferol 3-O-β-D-glucuronid từ phần trên mặt đất của rau má. Ngoài các flavonoid kể trên, loài này còn chứa một số hợp chất khác như castilliferol, castillicetin,… [18].
Tinh dầu Theo Quin và cộng sự (1998), thành phần tinh dầu của rau má tương tự như những loài Hydrocotyle sp. của họ Apiaceae. Bằng phương pháp GC-MS, tác giả đã xác định được 45 thành phần từ tinh dầu rau má, trong đó caryophyllen, farnesol và emelen là các thành phần chính [19].Trong khi đó, nghiên cứu của Oyedeji và cộng sự tại Nam Phi (2005) cũng chỉ ra βcaryophyllen là thành phần chủ đạo trong tinh dầu của rau má [20]. Nhóm chất khác Bên cạnh 3 nhóm chất triterpenoid, flavonoid và tinh dầu, thành phần hóa học của cây rau má rất phong phú như alcaloid, tanin, vitamin, chất khoáng, acid amin,… trình bày các nhóm chất khác trong cây rau má [11], [18].
Tác dụng dược lý và công dụng của cây Rau má 1. Tác dụng bảo vệ gan Nghiên cứu của Irmak Ferah Okkay và cộng sự cho thấy rau má có khả năng bảo vệ gan khỏi tổn thương do cisplatin gây ra bằng cách giảm các enzym AST, ALT và ALP, đồng thời hạ nồng độ các chỉ dấu căng thẳng oxy hóa như MDA và ROS và tăng 5 hoạt tính của các chất chống oxy hóa nội sinh như SOD, CAT và GSH. Rau má còn ức chế quá trình viêm gan thông qua giảm sinh TNF-α, IL-1β và NF-κB [21]. Tác dụng bảo vệ gan của rau má đã được kiểm chứng trên nhiều mô hình khác nhau.
Trong các thí nghiệm in vitro, rau má thể hiện hiệu quả chống ung thư gan. Phân đoạn glycosid từ rau má hiệu quả trong việc cải thiện các tổn thương xơ hóa gan do dimethylnitrosamin ở chuột [22]. Ở mô hình gây độc gan bằng cyclophosphamide (CYP), các saponin triterpenoid từ Rau má giúp điều hòa chức năng gan thông qua việc phục hồi sản xuất cytokine, từ đó làm giảm tổn thương gan [23]. Tác dụng bảo vệ da làm, lành vết thương Rau má và acid asiatic được chứng minh có tác dụng làm lành vết thương thông qua nhiều giai đoạn của quá trình làm lành da.
Một trong những cơ chế được kể đến là: tăng tổng hợp collagen I và fibronectin, duy trì kiên kết, tăng sinh nguyên bào sợi; qua đó có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình làm lành vết thương. Năm 1996, Suguna và cộng sự chứng minh rằng việc sử dụng chiết xuất ethanolcủa Rau má bằng đường uống giúp thúc đẩy việc giảm diện tích vết thương và chữa lành nhanh hơn [24], [25]. Tác dụng lên tim mạch Theo một nghiên cứu của Nyuk Jet Chong và Zoriah Aziz và cộng sự, Rau má có thể có lợi cho việc cải thiện các dấu hiệu và triệu chứng của suy giãn tĩnh mạch mạn tính [26]. Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng và mù đôi trên bệnh nhân bị tăng huyết áp tĩnh mạch, rau má và các saponin từ rau má đã được chứng minh giúp giảm phù mắt cá chân, cải thiện vi tuần hoàn và tăng cường hiệu quả lọc ở mao mạch, đồng thời tác dụng này phụ thuộc vào liều lượng sử dụng [27], [28].
Rau má có tác dụng bảo vệ tế bảo cơ tim khỏi tác động của chất gây tổn thương cơ tim (Adriamycin) [29] và cải thiện tình trạng tồn thương tái tưới máu và thiếu máu cục bộ cơ tim (nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim) ở chuột thí nghiệm [30]. Tác dụng điều hòa miễn dịch, chống ung thư Phân đoạn tinh chế từ dịch chiết methanol Rau má cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư mà không gây độc đối với tế bào lympho. Ngoài ra, dịch chiết cũng thể hiện tác dụng phòng ngừa ung thư đại tràng [31], hoạt chất acid asiatic có tác dụng chống ung thư da [19]. Các thử nghiệm dược lý cho thấy các sản phẩm thoái giáng của pectin SA3 trong Rau má có tác dụng kích thích miễn dịch [6].
Acid asiatic trong Rau má hoạt động như 6 một một tác nhân trị liệu miễn dịch chống khối u, nhờ tác dụng cảm ứng lên Smad7 kết hợp với naringenin [32]. Trong nghiên cứu của Michał Wiciński và cộng sự năm 2024, acid asiatic trong Rau má tham gia ức chế quá trình phosphoryl hóa, gây chết tế bào và giảm sự phát triển và di căn của khối u bằng cách tác động đến các con đường truyền tín hiệu quan trọng trong tế bào ung thư như PI3K, Akt, mTOR, p70S6K và STAT3 [32].