CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN 1.1 Tổng quan về kiểm toán BCTC 1.1 Khái niệm kiểm toán BCTC Theo luật kiểm toán độc lập được Quốc hội khoá 12 thông qua ngày 29/3/2011, “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán”. Trong kiểm toán BCTC, đối tượng kiểm toán chủ yếu là các BCTC. Do BCTC bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành nên chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán BCTC. Ngoài ra, cơ sở đánh giá của kiểm toán BCTC còn bao gồm cả các quy định pháp lý khác có liên quan đến quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh của đơn vị như những quy định về trao đổi, mua bán sản phẩm, quản lý lao động, vật tư, nghĩa vụ với ngân sách.
Kết quả của kiểm toán BCTC là các báo cáo kiểm toán, trong đó nêu rõ ý kiến của KTV về mức độ trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán. Ngoài ra, kết quả kiểm toán còn có thể gồm cả thư quản lý, trong đó, nêu lên những tồn tại trong việc thiết lập và vận hành HTKSNB, trong việc tổ chức công tác kế toán và lập BCTC ở đơn vị, đồng thời đề xuất hướng khắc phục để đơn vị nâng cao chất lượng của BCTC. Kết quả của kiểm toán BCTC có thể phục vụ cho đơn vị, nhà nước và các bên thứ ba nhưng chủ yếu là phục vụ cho những bên thứ ba như các cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng.để họ đưa ra những quyết định kinh tế của mình.2 Vai trò của kiểm toán BCTC BCTC của doanh nghiệp được rất nhiều đối tượng quan tâm, sử dụng và những đối tượng đó luôn muốn có được những thông tin đáng tin cậy nhằm giúp họ đánh Luan van - 21 - giá về thực trạng tài chính của doanh nghiệp để ra các quyết định kinh tế. Thế nhưng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán thì khả năng nhận được những thông tin không đáng tin cậy cũng gia tăng.
Rủi ro về thông tin gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau chẳng hạn như: - Động cơ của người cung cấp thông tin. Người cung cấp thông tin thường có xu hướng trình bày thông tin theo chiều hướng thuận lợi nhất cho mình. Ví dụ như khi doanh nghiệp muốn tối thiểu hoá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, các thông tin về doanh thu, lợi nhuận. có thể sẽ bị khai giảm giả tạo hay không được cung cấp đầy đủ.
Ngược lại, khi doanh nghiệp muốn bán cổ phần để thu hút cổ đông, các thông tin về doanh thu, lợi nhuận. có thể sẽ bị khai tăng giả tạo. - Sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin. Trong nền kinh tế hiện đại, người sử dụng thông tin khó có thể tiếp cận trực tiếp với thông tin tại đơn vị mà họ đầu tư, chọn làm đối tác kinh doanh hay chọn để ra các quyết định kinh tế khác.
Điều này làm tăng rủi ro có thông tin bị sai lệch khi được cung cấp cho người sử dụng. - Lượng thông tin phải xử lý và độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế gia tăng, nhất là khi hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, quy mô của các tổ chức ngày càng lớn. Chính vì thế, cần có những giải pháp để làm giảm rủi ro, ví dụ như: - Người sử dụng thông tin tài chính sẽ trực tiếp kiểm tra thông tin. Cách này thường được áp dụng trong một số trường hợp, ví dụ như khi các KTV thuế xác minh về số thuế của một doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cách này lại rất khó áp dụng đối với đa số người sử dụng vì sẽ rất tốn kém về chi phí, gây trở ngại cho đơn vị và nhất là đòi hỏi kiến thức chuyên môn và kỹ năng kiểm tra của người thực hiện. - Tăng cường trách nhiệm pháp lý của hội đồng quản trị hay ban giám đốc. Họ là những người đại diện chính thức của doanh nghiệp trước các cổ đông và pháp luật nên pháp luật thường bắt buộc họ phải chịu trách nhiệm về độ tin cậy của những thông tin tài chính do họ công bố. Tuy nhiên, giải pháp này không thể là một Luan van - 22 - giải pháp kịp thời và hiệu quả một khi các thành viên này cố ý cung cấp những thông tin không chính xác cho người sử dụng vì động cơ trục lợi cho mình.
- Bắt buộc BCTC phải được kiểm toán bởi những KTV độc lập. Lúc này, KTV độc lập có trách nhiệm kiểm tra và cung cấp nhận xét về BCTC và họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu nhận xét không xác đáng về BCTC. Trong các giải pháp trên thì cách “bắt buộc BCTC phải được kiểm toán bởi những KTV độc lập” được xem là có hiệu quả nhất vì với kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và sự độc lập của mình, KTV sẽ cung cấp sự đánh giá xác đáng về độ tin cậy của BCTC, đồng thời, giúp tiết kiệm chi phí kiểm tra cho đông đảo người sử dụng BCTC. Như vậy, đứng dưới góc độ xã hội, hoạt động kiểm toán BCTC, khi được luật pháp quy định, đã trở thành một công cụ hữu hiệu để tăng cường sự minh bạch, lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, thúc đẩy sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là đối với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện tại.
Như vậy, ta có thể nói rằng, nếu như kế toán cung cấp thông tin cho người sử dụng thì kiểm toán đem lại niềm tin cho những người sử dụng các thông tin đó. Thêm vào đó, đối với những nhà quản lý doanh nghiệp, kiểm toán tạo nên giá trị gia tăng cho các BCTC. Dựa trên cơ sở những quan sát trong khi thực hiện kiểm toán BCTC, KTV độc lập có thể trình bày những đề xuất để nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm soát và của bản thân các hoạt động trong đơn vị được kiểm toán.3 Mục tiêu của kiểm toán BCTC Đối tượng của kiểm toán BCTC là các BCTC và các sổ sách, tài liệu kế toán. Dựa trên các bằng chứng thu thập được, đối chiếu với các tiêu chuẩn, chuẩn mực và những quy định pháp lý về kế toán và các quy định khác có liên quan, KTV phải đưa ra được ý kiến của mình về mức độ trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán.
Do vậy, mục tiêu tổng quát của kiểm toán BCTC “là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và Luan van - 23 - có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” [4, đoạn 11]. Ngoài ra, mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy được những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Để đạt được mục tiêu tổng quát nói trên, KTV sẽ thực hiện các thủ tục kiểm toán để đánh giá rằng có sai lệch trọng yếu trong các chỉ tiêu được trình bày trong BCTC của đơn vị hay không. Đây chính là mục tiêu chung của kiểm toán BCTC.
Mục tiêu chung của kiểm toán BCTC được đặt ra dựa vào các cơ sở dẫn liệu của BCTC. Cơ sở dẫn liệu là những giải trình (hoặc khẳng định) của các nhà quản lý để chứng minh về các dữ liệu được trình bày trên BCTC. CSDL được hình thành xuất phát từ trách nhiệm của các nhà quản lý đối với việc soạn thảo, trình bày và công bố BCTC theo đúng với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500) “Bằng chứng kiểm toán” xác định các CSDL của BCTC bao gồm: - Hiện hữu: một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC thực tế phải tồn tại (có thực) vào thời điểm lập báo cáo.
- Quyền và nghĩa vụ: một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC, đơn vị phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo. - Phát sinh: một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã xảy ra và có liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét. - Đầy đủ: toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra có liên quan đến BCTC phải được ghi chép hết các sự kiện liên quan. - Đánh giá: một tài sản hay một khoản nợ phải được ghi chép theo giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận).
- Chính xác: một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo đúng giá trị của nó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học. Luan van - 24 - - Trình bày và công bố: các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận). Từ các mục tiêu kiểm toán chung này, tùy thuộc vào từng khoản mục kiểm toán cụ thể mà các KTV thiết lập các mục tiêu kiểm toán đặc thù cho từng khoản mục. Dưới đây là ví dụ về mối quan hệ giữa CSDL, mục tiêu kiểm toán chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù: Bảng 1.1: Ví dụ về mối quan hệ giữa CSDL, mục tiêu kiểm toán chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù CSDL Mục tiêu Mục tiêu kiểm toán đặc thù Doanh thu Phải thu khách hàng kiểm toán chung Hiện hữu Hiện hữu - Tất cả các khoản phải thu khách hàng được phản ánh trên BCTC phải thực tế tồn tại tại thời điểm lập BCTC.
Quyền Quyền - Các khoản phải thu khách hàng được phản ánh trên BCTC thuộc quyền sở hữu của đơn vị và đơn vị có quyền được thu các khoản này vào thời điểm lập BCTC. Đầy đủ Đầy đủ Các nghiệp vụ liên quan đến Các khoản phải thu khách doanh thu thuộc về đơn vị trong hàng liên quan đến đơn vị thời kỳ xem xét đều phải được trong thời kỳ xem xét đều ghi nhận và báo cáo. phải được ghi nhận và báo cáo.