CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1. Tổng quan về kiểm toán BCTC 1. Khái niệm về kiểm toán và BCTC Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã đư ợc thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập. BCTC là một hệ thống số liệu và phân tích cho biết tình hình tài sản và nguồn vốn, luồng tiền và hoạt động kinh doanh của một DN. BCTC cung cấp nhữn thông tin kinh tế- tài chính cần thiết cho việc kiểm tra, quản lý tài sản, đánh giá hoạt động của mỗi đơn vị. Phân loại kiểm toán: Căn cứ vào mục đích kiểm toán, kiểm toán được chia làm ba loại: - Kiểm toán BCTC: Là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của BCTC.
- Kiểm toán hoạt động: Là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiêu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước. - Kiểm toán tuân thủ: Là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Căn cứ vào hình thức tổ chức, kiểm toán gồm có: - Kiểm toán nhà nước: là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV làm việc trong cơ quan kiểm toán nhà nước, kiểm toán theo luật định và kiểm toán tính tuân thủ, chủ yếu phục vụ việc kiểm tra và giám sát của nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước. Điều 13, 14 Luật Kiểm toán Nhà nước quy định: “ Kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật “.
“Kiểm toán nhà nước có SVTH: NGUYỄN THỊ HIỀN 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. PHẠM NGỌC TOÀN chức năng kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước”. - Kiểm toán độc lập: là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV chuyên nghiệp, độc lập làm việc trong các DN kiểm toán. Kiểm toán độc lập là loại hình dịch vụ nên chỉ được thực hiện khi khách hàng có yêu cầu.
Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12: “Kiểm toán độc lập là việc KTV hành nghề, DNKiểm toán, chi nhánh DNKiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về BCTC và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”. - Kiểm toán nội bộ: là công việc kiểm toán do các KTV của đơn vị tiến hành. Kiểm toán nội bộ chủ yếu để đánh giá về việc thực hiện pháp luật và quy chế nội bộ; kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống KSNB và việc thực thi công tác kế toán, tài chính của đơn vị. BCKT nội bộ chủ yếu phục vụ cho lãnh đạo DN trong công tác quản lý, không có giá trị pháp lý.
Mục tiêu Tùy theo từng yêu cầu kiểm toán cụ thể để đặt ra những mục tiêu nhất định. Nhìn chung mỗi cuộc kiểm toán đều hướng tới hai mục tiêu sau: - Xác nhận sự trung thực, hợp lý của các số liệu sổ sách kế toán - Làm cơ sở giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Vai trò BCTC không chỉ cung cấp thông tin trong nội bộ DN phục vụ công tác quản trị của nhà quản lý mà còn là cơ sở để ra quyết định kinh tế của những nhà đầu tư, đồng thời phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm. Vì vậy những thông tin được trình bày trong BCTC cần phản ánh trung thực, khác quan tình hình tài chính của đơn vị và kiểm toán BCTC như một sự nhận xét của bên thứ ba về những thông tin này.
Bên cạnh đó, hoạt động kế toán tài chính bao gồm rất nhiều mối quan hệ kinh tế đa dạng và rất nhiều nghiệp vụ phát sinh liên tục.Để hướng những nghiệp vụ này phù hợp với những chuẩn mực và quy định hiện hành đồng thời hạn chế xảy ra sai SVTH: NGUYỄN THỊ HIỀN 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. PHẠM NGỌC TOÀN sót thì cần phải thường xuyên rà soát, kiểm tra để hướng những nghiệp vụ này vào quỹ đạo mong muốn. Khái quát về bằng chứng kiểm toán 1. Khái niệm Để đưa ra những ý kiến của mình về BCTC KTV cần phải đánh giá hệ thống KSNB và thu thập những tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, BCTC và những tài liệu khác liên quan đến tình hình tài chính của khách hàng để làm bằng chứng cho ý kiến mà mình đưa ra.
Theo chuẩn mực kiểm toán số 500: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả những tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình”. Vai trò Vì bằng chứng kiểm toán là cơ sở cho những nhận xét và kết luận của KTV nên việc thu thập bằng chứng kiểm toán có ý nghĩa vô cùng quan tr ọng. Nó quyết định thời gian và chất lượng cuộc kiểm toán. Tùy vào xét đoán chuyên môn mà KTV sẽ thu thập những bằng chứng cụ thể phục vụ cho việc ra quyết định của mình.
Mỗi bằng chứng có giá trị khác nhau và được áp dụng trong các phần hành kiểm toán cụ thể. Vai trò quan trọng của bằng chứng kiểm toán được quy định tại Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500: “Kiểm toán viên va Công ty Kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán”. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán BCKT phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định cụ thể những bằng chứng thu thập được cần phải thích hợp và đầy đủ.Vì đ ối tượng của kiểm toán BCTC bao gồm tất cả những thông tin tài chính liên quan tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong một niên độ tài chính.Nên với một đối tượng kiểm toán rộng như vậy, KTV không thể kiểm tra, rà soát tất cả các nghiệp vụ đã phát sinh.Vì v ậy vấn đề đặt ra là phải xác định số lượng bằng chứng thích hợp để có thể đánh giá toàn diện đối tượng được kiểm toán. SVTH: NGUYỄN THỊ HIỀN 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
PHẠM NGỌC TOÀN 1. Yêu cầu về tính thích hợp Giá trị của các bằng chứng thu thập được liên quan đến mức độ tin cậy của các bằng chứng và sự phù hợp của các bằng chứng đó với cơ sở dẫn liệu mà KTV muốn xác minh. Những yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu lực của kiểm toán gồm : - Tính liên quan: bằng chứng kiểm toán phải liên quan tới mục tiêu kiểm toán và là cơ sở để đưa ra kết luận kiểm toán. - Loại hình hay dạng của bằng chứng: những bằng chứng vật chất mà KTV thu thập được về vấn đề kiểm toán được xem là có giá trị cao hơn những bằng chứng bằng lời nói.
- Kệ thống KSNB: Do hệ thống KSNB được thiết kế nhằm ngăn chặn và phát hiện những sai phạm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị nên những bằng chứng thu được trong điều kiện hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu luôn có giá trị hơn bằng chứng thu thập được từ hệ thống KSNB kém hiệu quả. - Nguồn gốc thu thập bằng chứng kiểm toán: bằng chứng thu thập được càng độc lập với đơn vị được kiểm toán thì có giá trị càng cao. Ví dụ bằng chứng thu được từ các bên thứ ba như bảng sao kê của ngân hàng, xác nhận số dư nợ phải thu, phải trả sẽ có giá trị cao hơn những tài liệu do đơn vị cung cấp. - Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu: quy mô mẫu càng lớn thì bằng chứng thu được có tính thuyết phục càng cao.
- Sự kết hợp giữa các bằng chứng kiểm toán: sự kết hợp giữa các thông tin cùng xác minh cho một vấn đề sẽ có giá trị hơn một thông tin đơn lẻ. Điều này đã đư ợc nêu ra trong đoạn 17 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500: “Bằng chứng kiểm toán có sức thuyết phục cao hơn khi có được thông tin từ nhiều nguồn và nhiều loại khác nhau cùng xác nhận” 1. Yêu cầu về tính đầy đủ Yêu cầu này đề cập đến số lượng bằng chứng kiểm toán cần thiết, chủ yếu là cỡ mẫu và thời gian thực hiện các thủ tụ kiểm toán. Ví dụ, KTV đã nh ận được thư xác nhận của một số khách hàng xác nhận số dư nợ phải thu là thực sự tồn tại tuy nhiên đây vẫn chưa là bằng chứng thuyết phục.
Để đưa ra kết luận KTV cần phải SVTH: NGUYỄN THỊ HIỀN 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. PHẠM NGỌC TOÀN xác định cỡ mẫu trong từng trường hợp cụ thể.Sự đầy đủ của bằng chứng kiểm toán phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTV. Xác định tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán đòi hỏi sự xét đoán chuyên môn của KTV vì đây ch ỉ là một khái niệm tương đối bởi không có một con số cụ thể về số lượng bằng chứng cần thu thập mà tùy thuộc vào từng cuộc kiểm toán, từng đơn vị được kiểm toán. Điều này cũng đư ợc quy định trong chuẩn mực kiểm toán số 500: “Trong quá trình hình thành ý của mình, Kiểm toán viên không nhất thiết phải kiểm tra tất cả các thông tin có sẵn.
Kiểm toán viên được phép đưa ra kết luận về số dư tài khoản, các nghiệp vụ kinh tế hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ trên cơ sở kiểm tra chọn mẫu theo phương pháp thống kê hoặc theo xét đoán cá nhân.” Tuy nhiên KTV không thể xác định hoàn toàn theo cảm tính mà phải dựa trên các yếu tố sau: - Tính trọng yếu: bộ phận càng trọng yếu, có giá trị lớn càng đòi h ỏi thu thập nhiều bằng chứng hơn. - Mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: những đối tượng được xác định có mức rủi ro kiểm toán cao cũng c ần phải thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán hơn.