Đặt vấn đề Nấm là một sản phẩm có nhiều tiềm năng về mặt dƣợc liệu, thực phẩm và những ứng dụng liên quan Ďến môi trƣờng sinh thái. Nấm có nhiều chất dinh dƣỡng, thơm ngon Ďƣợc ví nhƣ một loại rau sạch thịt sạch rất tốt cho sức khỏe với thành phần giàu vitamin và protein, nhiều chất xơ và chứa lƣợng chất béo thấp, thích hợp với những ngƣời có chế Ďộ ăn kiêng và chống béo phì. Các nấm dƣợc liệu Ďƣợc cho là Ďặc Ďiểm quan trọng có ý nghĩa trong việc Ďiều trị các bệnh về gan, huyết áp, chống lão hóa. Nhiều loại nấm ví dụ nhƣ nấm Hƣơng, nấm Thƣợng hoàng, nấm Linh chi…Ďƣợc nhắc Ďến nhiều trong việc tìm các hƣớng Ďiều trị mới cho những căn bệnh hiểm nghèo nhƣ HIV, ung thƣ [11].
Hệ sợi của nấm có thể sản xuất nhiều loại enzyme ngoại bào mà có thể phân hủy và sử dụng các chất thải có bản chất là lignocellulose làm giảm mức Ďộ ô nhiễm môi trƣờng vì vậy hệ sợi nấm Ďƣợc cho là Ďóng vai trò Ďáng kể trong việc phục hồi lại khu vực bị ô nhiễm. Trên thế giới nhiều nƣớc Ďã phát triển nhiều loại nấm ăn, nhƣ nấm sò, nấm mỡ nhƣ một Ďối tƣợng canh tác có giá trị dinh dƣỡng cao. Những lọai nấm Ďƣợc nuôi trồng phổ biến và thƣờng xuyên này thƣờng rất dễ trồng, có thể tận dụng các nguồn nguyên liệu có sẵn nhƣ rơm rạ, bã mía, mùn cƣa. Điều kiện nuôi trồng thì không quá phức tạp và các thiết bị Ďể duy trì các Ďiều kiện tối ƣu cũng dễ tìm kiếm, Ďơn giản và có giá thành thấp.
Ở Việt Nam các sản phẩm từ nấm khá Ďƣợc ƣa chuộng, nhiều loại nấm có giá thành khá cao nhƣ Đông trùng hạ thảo, nấm Lim xanh, nấm Hƣơng. Số lƣợng những loại nấm ăn phổ biến nhƣ nấm Sò hay nấm Rơm vẫn chƣa Ďủ Ďể Ďáp ứng nhu cầu của ngƣời dân. Vì vậy lĩnh vực nuôi trồng và sản xuất nấm có nhiều hứa hẹn cần n 2 Ďƣợc Ďẩy mạnh nghiên cứu và phát triển, vừa cải tiến những giống nấm sẵn có, Ďồng thời thúc Ďẩy việc phân lập những giống nấm hoang dại có giá trị. Nhiều loại nấm hoang dại Ďƣợc ngƣời dân sử dụng làm thực phẩm rất ngon nhƣng Ďang dần mất Ďi, ví dụ nhƣ nấm Da báo và một số loại nấm khác… Nấm Da báo là loại nấm dễ tìm, có thể bắt gặp ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc nhƣ Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, nhƣng hiện nay cũng ngày càng khan hiếm do Ďiều kiện thời tiết thất thƣờng và tình trạng thu hái một cách tự phát.
Theo ngƣời dân, nấm Da báo có vị ngọt, rất ngon, số lƣợng ít và thƣờng sử dụng theo kinh nghiệm. Điều này dẫn tới những nghi vấn về những tác Ďộng của nấm tới cơ thể con ngƣời mà mắt thƣờng không quan sát Ďƣợc Ďồng thời cho thấy tiềm năng phát triển 1 loại giống nấm ăn mới cho thị trƣờng ẩm thực và có thể cả hƣớng nghiên cứu dƣợc liệu. Mặc dù trên thế giới có nhiều gợi ý về vai trò thực phẩm và khả năng ngăn cản phát triển khối u của nấm Da báo nhƣng ở Việt Nam không có những thông tin khoa học chi tiết về loại nấm này. Năm 2015 Nấm Da báo Ďã Ďƣợc nhóm nghiên cứu gồm ThS Vi Đại Lâm, Kỹ sƣ Đinh Văn Thiện và sinh viên Nguyễn Thị Trang trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phân lập thành công giai Ďoạn Ďầu.
Tuy nhiên quá trình phân lập giống nấm chƣa ổn Ďịnh, các loại môi trƣờng và Ďiều kiện thích hợp cho nấm phát triển còn hạn chế. Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn của ngƣời dân, nhằm bảo tồn và tìm kiếm những tiềm năng ứng dụng của nấm Da báo, Ďồng thời xây dựng, cải tiến quy trình phân lập giống nấm có ý nghĩa về mặt khoa học và ứng dụng, chúng tôi tiến hành thực hiện Ďề tài nghiên cứu “Nghiên cứu kỹ thuật phân lập và nuôi trồng nấm da báo tại trương Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” 1. Mục đích của đề tài - Xây dựng và tối ƣu hóa quy trình phân lập và nuôi trồng nấm da báo n 3 - Tạo ra sản phẩm nấm Da báo có giá trị kinh tế, có giá trị dinh dƣỡng và an toàn khi sử dụng. Mục tiêu - Môi trƣờng thích hợp Ďể phân lập nấm Da báo từ mô thịt nấm - Tìm Ďƣợc công thức giá thể Ďến khả năng nuôi cấy Da báo 1.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Duy trì và khai thác nguồn giống nấm Da báo cho các nghiên cứu chuyên sâu - Đánh giá Ďƣợc nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm Da báo và các nguyên liệu trồng tại Ďịa phƣơng có ý nghĩa trong việc ứng dụng thực tiễn - Đánh giá Ďƣợc khả năng chống chịu của nấm trƣớc các biến Ďổi không thuận lợi của nhiệt Ďộ theo mùa từ Ďó xây dựng mô hình nuôi trồng thích hợp 1. Ý nghĩa thực tiễn - Khai thác các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm tại Ďịa phƣơng, bao gồm tất cả các loại phế thải của nông nghiệp giàu chất cellulose, xử lý các nguồn rác thải từ sản xuất nông nghiệp hạn chế hiện tƣợng ô nhiễm môi trƣờng ở nông thôn sau mỗi vụ thu hoạch. - Tạo thêm việc làm cho ngƣời dân, Ďịnh hƣớng cho ngƣời dân hƣớng tới những mô hình nuôi trồng lớn hơn, Ďa dạng hơn, có ý nghĩa kinh tế.
- Phát triển cho thị trƣờng các loại giống nấm (hay meo nấm) thƣơng mại, tăng thu nhập cho ngƣời sản xuất. - Tạo ra Ďƣợc sản phẩm thực tiễn dựa trên nhu cầu xã hội. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Giới thiệu chung Nấm là những sinh vật thuộc giới Myceteae.
Từ “nấm” có thể chỉ những Ďối tƣợng khác nhau Ďối với những ngƣời khác nhau hoặc ở các nƣớc khác nhau. Trong một nghĩa rộng "Nấm là một loại nấm lớn với thể quả Ďặc trƣng, có thể là ở trên mặt Ďất hoặc ở dƣới mặt Ďất và Ďủ lớn Ďể có thể nhìn thấy bằng mắt thƣờng, có thể Ďƣợc Ďào (hái) bằng tay. Định nghĩa này không phải là hoàn hảo nhƣng có thể công nhận là một thuật ngữ phù hợp Ďể Ďánh giá số lƣợng nấm trên trái Ďất. Loại hình phổ biến nhất của nấm là hình cây dù với một mũ nấm (cap) và một thân nấm (gốc).
Nhiều loài khác thêm vào Ďó có 1 lớp bao gói ( giống Ďài hoa) ví dụ nhƣ Volvariella volvacea hoặc là một cái vòng ví dụ Agarius campestris hoặc là có cả hai Ďặc Ďiểm Ďó ví dụ nhƣ Amanita muscaria. Bên cạnh Ďó, một số loại nấm dƣới hình thức Ďài hoa mềm dẻo, những loại khác tròn nhƣ quả bóng golf. Một số trong hình dạng của chiếc gậy nhỏ hay một số giống san hô nhiều loài khác có màu vàng hoặc màu cam nhƣ thạch và một số loài thậm chí rất giống tai ngƣời. Trong thực tế nấm là cái gì Ďó Ďặc biệt trong thế giới sống, không phải là thực vật hay Ďộng vật.
Cấu trúc chúng ta gọi là nấm, trên thực tế chỉ có thể quả của các loại nấm. Các phần sinh dƣỡng của nấm gọi là hệ sợi nấm, bao gồm một hệ thống các sợi phân nhánh và giống nhƣ các sợi chính mọc tỏa qua Ďất, phân trộn, khúc gỗ hoặc một số vật chất khác chứa cellulose nơi mà nấm có thể phát triển. Sau giai Ďoạn sinh trƣởng dƣới Ďiều kiện thuận lợi, hình thành sợi nấm (trƣởng thành) có thể tạo ra cấu trúc thể quả mà chúng ta gọi là nấm. Theo Ďó nấm có thể Ďƣợc nhóm thành 4 loại: n 5 (1) Những loại có thịt và ăn Ďƣợc, rơi vào các loại nấm ăn Ďƣợc, ví dụ: Agaricus bisporus (2) Các loại nấm có ứng dụng làm thuốc, Ďƣợc gọi là nấm dƣợc liệu, ví dụ: Ganoderma lucidum (3) Những loại Ďƣợc chứng minh là có, hoặc nghi ngờ là có chất Ďộc, Ďƣợc gọi tên là nấm Ďộc, ví dụ: Amanita phalloides (4) Một loại hỗn hợp bao gồm một số lƣợng lớn các loại nấm chƣa xác Ďịnh rõ thuộc tính, có thể tạm nhóm lại với nhau là "nấm khác".
Tất nhiên, phƣơng pháp này Ďể phân loại nấm không phải là tuyệt Ďối và không loại trừ lẫn nhau, nhiều loại nấm không chỉ Ďể ăn mà còn giúp tăng cƣờng sức khỏe và là dƣợc liệu tốt. Ngày nay một số lƣợng lớn các loài nấm ăn Ďã Ďƣợc thuần hóa và xây dựng các quy trình công nghệ Ďể nuôi cấy sản xuất một vài ví dụ Ďiển hình nhƣ: Linh chi, nấm hƣơng, nấm rơm. Tuy nhiên hầu hết các loại nấm Ďƣợc nuôi trồng có tiềm năng dinh dƣỡng Ďƣợc giữ nguyên, giống với Ďiều kiện sống hoang dại. Nếu nhƣ Ďƣợc sử dụng Ďúng cách những loại nấm này có thể là những nguồn protein trực tiếp hoặc những nguồn hợp chất có hoạt tính sinh học cho con ngƣời sử dụng, Ďặc biệt trong hoàn cảnh con ngƣời Ďang xây dựng nên những quy tắc về an ninh lƣơng thực, khuyến khích phát triển kinh tế Ďồng thời bảo vệ môi trƣờng.
Một trong những loại nấm hoang dại mà có tiềm năng nuôi cấy rất tốt là nấm Da báo (Lentinus tigrinus, Hình 2.1) mà thƣờng mọc trên những cây gỗ Ďã Ďổ mục. Một loại nấm có quan hệ họ hàng gần là nấm hƣơng cũng Ďƣợc trồng khá phổ biến Ďể phục vụ cho các mục Ďích về ẩm thực. Năm 2002 Wasser Ďã chỉ ra thành phần hoạt Ďộng sinh học Ďƣợc gọi là lentinan ở nấm hƣơng, là hợp chất β-glucan. Β-glucan là một phức chất tan trong nƣớc Ďƣợc phát hiện trong nhiều loại nấm và Ďƣợc cho rằng có mối liên hệ với việc kích n 6 thích hoạt Ďộng miễn dịch và các hoạt Ďộng kháng lại khối u.
Mặc dù nó rất Ďƣợc ƣa chuộng nhƣng việc nuôi cấy nấm hƣơng cũng bị giới hạn bởi nhiều nguyên nhân trong Ďó bao gồm yếu tố nhiệt Ďộ không thuận lợi. Một sự thay thế tốt nhất là việc nuôi cấy một Ďối tƣợng bản Ďịa (nhƣ là nấm Da báo ). Tuy nhiên yêu cầu Ďầu tiên là cần phải hiểu biết Ďầy Ďủ về các Ďiều kiện sinh trƣởng tối ƣu của nấm Da báo với những hƣớng thông tin cụ thể về giá trị dinh dƣỡng và những Ďòi hỏi về Ďiều kiện vật lí. Nấm Da báo nhìn chung thì vẫn là một loại nấm chƣa Ďƣợc biết rõ ràng.
Không giống nhƣ nấm hƣơng các thông tin về nấm Da báo rất hạn chế Ďặc biệt là những thông tin về Ďặc Ďiểm sinh học về công nghệ sản xuất, về giá trị thực phẩm, về dinh dƣỡng và các giá trị về dƣợc học.