MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine max (L) Merr) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs.
Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao. Qua phân tích sinh hoá cho thấy, hạt đậu tương chứa từ 38% - 45% protein, 18 % - 22% lipit, hyđrat các bon từ 15-16% và nhiều vitamin, khoáng chất quan trọng cho sự sống (Phạm Văn Thiều, 2006)[21]. Trong hạt đậu tương có chứa đầy đủ và cân đối các loại axít amin, đặc biệt là các axit amin cần thiết cho cơ thể con người mà không thể thay thế được như: Triptophan, leuxin, valin, lizin, methionin. Ngoài ra còn có các muối khoáng như: Ca, Fe, Mg, Na, P, K…, các vitamin B1, B2, D, K, E….
Đậu tương được chế biến thành 600 loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn cổ truyền: đậu phụ, tương chao, sữa đậu nành. tới các loại thực phẩm, chế phẩm hiện đại như: Kẹo, bánh đậu tương, bacon đậu tương, hotdogs đậu tương, đậu hũ cheese, các loại thịt nhân tạo. Kết quả nghiên cứu của Bùi Tường Hạnh (1997)[11] cho thấy trong hạt đậu tương có chất IZOFLAVONE có tác dụng làm giảm đáng kể lượng cholesterol trong máu khi sử dụng sản phẩm làm từ đậu tương. Trong công nghiệp dầu đậu tương được sử dụng làm si, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo.
Đậu tương còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm dược, ngành công nghiệp ép dầu. Hiện nay, đậu tương đang cung cấp 10 - 20% nhu cầu dinh dưỡng đạm cho người và 50% thức ăn cho gia súc trên toàn thế giới với sản lượng 245 triệu tấn/năm (năm 2002). Một tác dụng có ý nghĩa và đóng vai trò quan trọng của cây đậu tương trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đó là khả năng cố định đạm do vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum sống cộng sinh ở rễ cho nên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.vn 2 đậu tương là một trong những cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt. Các nốt sần ở bộ rễ cây đậu tương được coi như những “nhà máy phân đạm tí hon”, bởi những vi khuẩn trong nốt sần hoạt động rất cần mẫn tổng hợp đạm khí trời, làm giàu đạm cho đất, không gây ô nhiễm môi trường, mặt khác nó còn làm sạch bầu khí quyển giúp không khí trong lành hơn.
Sau một vụ thu hoạch cây đậu tương đã trả lại cho đất một lượng đạm đáng kể khoảng 50-80 kg đạm/ha, ngoài lượng đạm rễ cây cung cấp cho đất thì thân lá của cây đậu tương cũng là nguồn đạm có tác dụng tốt làm tăng thêm độ xốp, màu mỡ cho đất. Cây đậu tương có vai trò quan trọng trong việc luân canh, cải tạo đất, tăng độ phì cho đất. Sản phẩm đậu tương không chỉ có giá trị trong xuất khẩu thu đổi ngoại tệ, mà nó còn là động lực thúc đẩy nghành chăn nuôi trong nước phát triển. Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước.
Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất (69.425 ha) chiếm 37,10% tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,3 tạ/ha (Cục Trồng Trọt, 2006)[5]. Đồng Văn là một huyện vùng cao núi đá biên giới của tỉnh Hà Giang nơi cực Bắc của Tổ quốc. Tổng diện tích tự nhiên là 44.165 ha đất trồng cây hàng năm chiếm 29,58%; diện tích vùng núi đá 30.171 ha, chiếm 67,8%, còn lại là đất phi nông nghiệp. Là một huyện có tỷ trọng nông lâm nghiệp chiếm 42,8% trong cơ cấu kinh tế (tính đến 31/12/2011).
Cây đậu tương là cây đứng thứ 3 sau cây ngô, lúa. Diện tích đậu tương hàng năm là trên 2.130 ha đất canh tác (đất ngô 6.315 ha, đất lúa 815 ha), trong đó diện tích vụ đậu tương xuân chỉ chiếm từ 25 - 30% tổng diện tích cả năm; năng suất rất thấp 10,5 tạ/ha, vụ xuân có nơi chỉ đạt 6,5 - 7 tạ/ha. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu tương, như chưa có bộ giống tốt phù hợp từng mùa vụ, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa hợp lý. Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và biện pháp kỹ thuật là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.vn 3 Trước thực trạng đó huyện Đồng Văn - Hà Giang đã lựa chọn được giống đậu tương DT90, nhằm giới thiệu đưa vào sản xuất ở vụ xuân trên địa bàn huyện. Tuy nhiên để giống phát huy hết tiềm năng năng suất và chất lượng cần phải nghiên cứu đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trồng trọt. Vì vậy chúng tôi đã tiến hành xây dựng và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống đậu tương DT90 tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu của đề tài Xác định mật độ và lượng phân bón thích hợp cho giống đậu tương DT90, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, làm cơ sở phổ biến, mở rộng diện tích sản xuất đậu tương vụ xuân tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Đề tài là công trình nghiên cứu xác định biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống đậu tương DT90 trong vụ xuân năm 2012 và 2013 để tuyên truyền, khuyến cáo nhân dân mở rộng diện tích, sản xuất đậu tương đại trà trên địa bàn huyện Đồng Văn và có thể mở rộng thêm cho các huyện vùng cao núi có điều kiện tự nhiên như huyện Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học để các nhà nghiên cứu về nông nghiệp, giáo viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo. - Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật (Mật độ và phân bón) trồng đậu tương triển vọng, góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương vụ Xuân năm 2012 và năm 2013 để sản xuất đậu tương tại huyện Đồng Văn nói riêng và các huyện vùng cao núi đã có điều kiện tự nhiên như huyện Đồng Văn của tỉnh Hà Giang nói chung. - Sử dụng giống đậu tương cho năng suất cao và kỹ thuật mới vào mở rộng sản xuất, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng thu nhập cho nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.vn 4 dân sản xuất đậu tương, kích thích sản xuất đậu tương phát triển ở huyện Đồng Văn nói riêng và trên địa bàn toàn tỉnh Hà Giang nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.vn 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và tính bền vững cao, đem lại lợi nhuận cho người trực tiếp sản xuất, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường. cần áp dụng một cách khoa học, đồng bộ giữa các yếu tố giống, phân bón, nước, thời vụ, mật độ. Trong đó, biện pháp kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu được, vì giống chỉ phát huy được tiềm năng năng suất khi được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và có chế độ chăm sóc phù hợp.
Để lựa chọn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao, cần tập trung vào một số mục tiêu: - Chọn biện pháp kỹ thuật sao cho phù hợp với điều kiện sinh thái, trình độ canh tác của từng vùng; - Chọn biện pháp kỹ thuật phải phù hợp với từng loại giống, đặc biệt là mức độ chịu thâm canh. Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng: Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đầy đủ phân hữu cơ và các loại phân khoáng khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết (Phạm Văn Thiều, 2006)[21]. Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương, tác giả Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1999)[30] cho biết: để tạo ra 1 tấn hạt đậu tương cần cung cấp đầy đủ và cân đối các yếu tố dinh dưỡng đa lượng như N, P, K, Canxi và các yếu tố vi lượng như Mn, Zn, Cu, B, Mo. Lượng phân bón trong thực tế sản xuất phải tuỳ thuộc vào giống, thời vụ, chân đất, cây trồng vụ trước mà bón cho thích hợp (Trần Thị Trường và cs.
Do vậy không thể có một công thức bón chung cho tất cả các vụ, các vùng, các loại đất khác nhau. Mật độ trồng có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương. Do đó muốn đạt năng suất cao cần phải có mật độ quần thể thích hợp. Ablett và cs.
(1984)[31] cho rằng ở đậu tương có sự tương tác chặt giữa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.vn 6 giống và mật độ trồng. Nghĩa là mỗi giống đậu tương sẽ cho năng suất cao ở một mật độ gieo trồng thích hợp.Theo Duncan và cs., (1978)[41] với một giống đậu tương cụ thể mối quan hệ giữa mật độ trồng với năng suất hạt thường biến đổi theo 3 mức sau: Mức 1 là mức năng suất tăng tương quan tuyến tính khi tăng mật độ gieo; mức 2 là mức năng suất hạt đạt được tới đỉnh tối đa; mức 3 là mức năng suất sẽ không tăng khi tăng mật độ gieo trồng và bắt đầu giảm khi tiếp tục tăng mật độ. Mật độ trồng thích hợp cũng tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt. Vì vậy để giống phát huy được tiềm năng năng suất cần nghiên cứu khả năng thích ứng và biện pháp kỹ thuật trong từng điều kiện trồng trọt cụ thể.
Một số kết quả nghiên cứu đậu tƣơng trên thế giới và trong nƣớc 1. Một số kết quả nghiên cứu đậu tương trên thế giới 1. Nghiên cứu về bón phân cho đậu tương Nhu cầu về đạm của đậu tương ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Thiếu đạm ở giai đoạn này lá sẽ bị rụng sớm do đạm trong lá được di chuyển về cho phát triển hạt.
Các tác giả Ashour và Thalooth (1983)[33] kết luận là bổ sung thêm đạm qua lá ở giai đoạn làm hạt và vào chắc (R5 - R6) có tác dụng làm tăng năng suất hạt và tăng năng suất sinh khối.