chương 1 trình bày tổng quan những nghiên cứu về kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về các kỹ năng thực hành lâm sàng trong lĩnh vực y khoa. Quá trình tổng quan các nghiên cứu về kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa được trình bày theo các hướng nghiên cứu sau đây: Một là, những nghiên cứu về kỹ năng thực hành; Hai là, những nghiên cứu về kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa và Những nghiên cứu về kỹ năng thành phần trong kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa. Việc nhóm các hướng nghiên cứu trên chủ yếu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Luận án nghiên cứu về kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa tại các trường đại học được thực hiện trong điều kiện ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung vào lý luận và thực tiễn kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa trong tâm lý học. Những nghiên cứu về kỹ năng thực hành Nghiên cứu về kỹ năng thực hành của sinh viên dưới góc độ tâm lý học lao động, các tác giả K. Milerijan đưa ra một số quan niệm khác nhau.
Gurevic (1970) cho rằng, trong kỹ năng nghề, người lao động cần có các kỹ năng như: kỹ năng định hướng, kỹ năng chuẩn bị, kỹ năng thực hiện, kỹ năng kiểm tra, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin. Nghiên cứu về việc hình thành kỹ năng kỹ thuật tổng hợp lao động khái quát, E. Milerijan đã chia kỹ năng nghề nghiệp thành các nhóm: kỹ năng chủ đạo, kỹ năng điểm tựa và kỹ năng hỗ trợ. Tác giả đề cập đến quá trình hình thành kỹ năng lao động.
Bên cạnh đó, một số tác giả khác cũng đã bàn đến kỹ năng thực hành nghề, kỹ năng nghề. Mareev 9 với “Những vấn đề tâm lý học của sự chuẩn bị kỹ năng kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông”, V. Molijako với “Một số đặc điểm của kỹ năng kỹ thuật” đã bàn đến khái niệm, các đặc điểm và sự hình thành kỹ năng kỹ thuật chung cho học sinh [Dẫn theo 4]. Nghiên cứu việc hình thành các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học, X.
Kixegof (1977) nói đến việc rèn luyện hệ thống kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho người giáo viên nói chung và rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục nói riêng. Tác giả khẳng định việc rèn luyện kỹ năng phải được tiến hành thông qua hoạt động, được lặp lại nhiều lần với mức độ khó ngày càng cao, trong các tình huống sư phạm giả định và tình huống thực. Việc rèn luyện này cần được kiểm tra, điều chỉnh bởi nhà trường và cơ sở đào tạo. Yếu tố tích cực rèn luyện của chủ thể quyết định trực tiếp đến quá trình này.
Quan điểm “học đi đôi với hành” được coi là phương châm dạy học của nền giáo dục hiện đại. Bên cạnh việc phát triển tư duy người học, việc phát triển năng lực thực hành trong dạy học có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, dạy học nhất định phải tích cực hóa người học, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Thông qua thực hành, sinh viên rèn luyện được các kỹ năng cơ bản, đáp ứng mục tiêu chương trình giáo dục và đào tạo.
Nghiên cứu về kỹ năng thực hành của sinh viên rất quan trọng và cần thiết giúp nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng làm việc của sinh viên khi rời ghế nhà trường. “Học là phải có sự liên hệ thực tế” là quan điểm của Ulrich Lipp (2005). Lý thuyết và thực hành phải gắn bó với nhau như ngày với đêm. Nếu giờ giảng chỉ xoay quanh kiến thức sách vở và người học không nhận thấy mối liên hệ giữa kiến thức với cuộc sống thực tại thì buổi học sẽ không đảm bảo yêu cầu.
Kiến thức lý thuyết có thể được người học ghi nhớ trong các kỳ kiểm tra, nhưng sau khi thi xong, kiến thức đó sẽ biến mất. Lý thuyết giúp 10 chúng ta lý giải thế giới, từ đó tìm kiếm phương pháp thay đổi thế giới, nhưng nếu không có mối liên hệ với thực tế, lý thuyết sẽ chẳng làm gì được [68]. Tạ Thị Huyền và cộng sự (2016) trong nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng thực hành giảng dạy cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên – thực trạng và giải pháp” đã khảo sát thực trạng thực hành giảng dạy của sinh viên ngành sư phạm mầm non và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng rèn luyện kỹ năng giảng dạy của của sinh viên [32]. Tác giả Ngô Việt Hoàn (2017) với bài nghiên cứu về “Biện pháp bồi dưỡng năng lực kỹ năng thực hành cho sinh viên trong quá trình đào tạo giáo viên ngành Giáo dục thể chất tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội” việc bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng thực hiện các thao tác và hoạt động đúng kỹ thuật là nhân tố mang tính chất quyết định chất lượng giáo dục của ngành, nghiên cứu đã đưa ra một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thực hành cho sinh viên góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của sinh viên ngành Giáo dục thể chất ở các trường phổ thông sau này [28].
Trong những năm đầu thế kỷ XXI trở lại, kỹ năng tổ chức hoạt động thực hành là một trong những kỹ năng cơ bản của sinh viên trong hoạt động học tập, thu hút sự quan tâm tìm hiểu của các nhà khoa học phương Tây và phương Đông. Trong giáo dục hiện đại, người giáo viên không chỉ được xem là một người hướng dẫn, truyền thụ kiến thức, mà còn phải có khả năng tổ chức các hoạt động thực tế, đặc biệt là các hoạt động nhận thức, giúp người học tự vỡ ra vấn đề. Hướng tiếp cận này đưa ra cơ sở lý luận chung của sự hình thành kỹ năng kỹ thuật nghề, cũng như bước đầu chỉ ra một số kỹ năng lao động chung, chưa đi vào phân tích đầy đủ, chi tiết cơ chế, cấu trúc tâm lý của kỹ năng nghề nghiệp. Những nghiên cứu về kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa Những nghiên cứu trên thế giới liên quan đến vấn đề kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên ngành y khoa rất đa dạng bao gồm những nghiên cứu về phương pháp giảng dạy các kỹ năng thực hành lâm sàng, về phương pháp học các kỹ năng thực hành lâm sàng và về đánh giá kỹ năng thực hành lâm sàng ở sinh viên ngành y khoa.
Trong nhiều trường hợp, những nghiên cứu thường đánh giá hiệu quả của một số phương pháp giảng dạy lâm sàng trong việc nâng cao và cải thiện một kỹ năng cụ thể. Nghiên cứu các công trình này, chúng tôi có cách nhìn tổng quát hơn về mặt 11 lý luận khoa học sư phạm cũng như cách tiếp cận nghiên cứu các đề tài khoa học có tính chất tâm lí học, giáo dục học và xã hội học. Zeraati A, Hajian H, Shojaian R (2008) tại đại học Y Mashhad, Iran đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang mô tả để đánh giá sự khác nhau về phương pháp dạy học trong học tập lâm sàng của sinh viên trường Y. Kết quả cho thấy, có sinh viên thích học thông qua thị giác chẳng hạn như học qua biểu đồ, đồ thị hay sơ đồ diễn tiến (5,6%), có sinh viên ưa thích học thông qua đọc và viết (20,6%), trong khi đó lại có những sinh viên hứng thú học kiểu “mắt thấy tai nghe” (7,5%); 35,5% sinh viên thích áp dụng đa dạng các phương pháp học nêu trên [109].
Kết quả nghiên cứu của Guishu Zhong và Xia Xiong (2010) trên 206 sinh viên trường Đại học Y khoa Lusho cho thấy một số yếu tố liên quan đến việc học lâm sàng bao gồm kinh nghiệm của giảng viên, thiếu tài liệu, vật liệu học tập trong một số bệnh viện thực hành, sinh viên thiếu cơ hội thực hành trong phẫu thuật y khoa [85]. Tham khảo một số công trình nghiên cứu trong nước về lĩnh vực giáo dục y khoa [27], [31], [37], [43], phong cách học của sinh viên [33], [47], [61] như một cách tiếp cận tổng quát để đi sâu vào nghiên cứu các công trình liên quan đến phương pháp dạy - học lâm sàng cho sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe nói chung và sinh viên ngành y khoa nói riêng. Cụ thể, đề tài “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về kỹ năng giao tiếp với người bệnh của SV điều dưỡng trường Đại học Y Hải Phòng năm 2010” của Nguyễn Thị Anh Thư [54], Trần Thị Thanh Hương và cộng sự (2002) nghiên cứu trên 143 cán bộ giảng dạy và 1360 sinh viên cho thấy số sinh viên được dạy-học lâm sàng với phương pháp truyền thống chiếm 76,8%, phương pháp truyền thống kết hợp tích cực là 8,6%, phương pháp tích cực là 17% [30]. Nghiên cứu của Vũ Đình Chính và cộng sự (2016) cho thấy phương pháp học lâm sàng được sử dụng nhiều nhất là hướng dẫn kèm cặp 50,6%, cầm tay chỉ việc 15,5%, thao tác mẫu 18,5%, còn lại là các phương pháp khác [12].
Nghiên cứu của Lê Văn Cường (2008) áp dụng phương pháp học tập tích cực trên lâm sàng với 145 sinh viên y khoa năm thứ ba và năm thứ sáu. Nghiên cứu này được theo dõi bằng phương pháp quan sát trực tiếp của 4 cán bộ giảng viên. Kết quả 12 cho thấy phương pháp học tập tích cực trên lâm sàng là một phương pháp mới, phương pháp được tổ chức theo nhóm nhỏ, phương pháp này hữu ích và có hiệu quả [14]. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Lĩnh và cộng sự (2011) về thực trạng học lâm sàng của sinh viên bác sĩ đa khoa tại khoa y dược trường Đại y học Tây Nguyên năm 2011 cho thấy, phần lớn sinh viên đa khoa năm thứ năm học qua buổi giao ban (68,8%) và đại đa số học bên giường bệnh (97,6%).
Tỷ lệ sinh viên đa khoa năm thứ sáu học qua buổi giao ban là 55,3%, học bên giường bệnh là 92,9% và học qua buổi đi buồng điểm bệnh là 37,1%. Kết quả thảo luận nhóm sinh viên nhận định các phương pháp học lâm sàng đang được áp dụng chủ yếu là 1 buổi giao ban (93%), đi buồng điểm bệnh (80%), trình bày bệnh án lâm sàng học qua thầy giảng sau đó (75%), các buổi trực tại bệnh viện (50%), xem thủ thuật, phụ mổ, tham gia khám bệnh tại phòng khám, tại khoa (56%).