Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THÍCH ỨNG NGHỀNGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Đặc điểm, vai trò và nội dung về phát triển kỹ năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học 1. Khái niệm, vai trò phát triển kỹ năng thích ứng nghề nghiệp 1.Khái niệm về kỹ năng Trong từ điển tiếng Việt, kỹ năng được định nghĩa như sau: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”.[21] Theo Từ điển Tâm lý học - Vũ Dung chủ biên, kỹ năng là: “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phưng thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.
Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng. Kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [3,tr427]. Chúng ta có thể hiểu, kỹ năng là hành động hay chuỗi hành động của chủ thể được thực hiện tự giác trên cơ sở hiểu biết về công việc nhằm đạt được kết quả mong đợi. Kỹ năng được hình thành khi cá nhân áp dụng kiến thức vào thực tiễn và được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như: + Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động; + Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động; + Kỹ năng có được do quá trình rèn luyện do vậy kỹ năng có thể phát triển được.
Như vậy có thể thấy: Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân sử dụng năng lực, tri thức, kỹ xảo hay cách thức giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Kỹ năng này được tạo ra bởi con người thông qua quá trình rèn luyện. Bản chất kỹ năng là sự vận dụng 11 kiến thức vào trong thực tiễn cuộc sống, học tập, công tác.Khái niệm về thích ứng nghề nghiệp a. Khái niệm về thích ứng Thuật ngữ “thích ứng” dưới góc độ tâm lý học, là một quá trình con người luôn tích cực, chủ động hòa nhập, lĩnh hội các điều kiện, các yêu cầu, phương thức mới của hoạt động nhằm đạt được mục đích của hoạt động đã đề ra.
Thông qua đó, chủ thể của hoạt động liên tục phát triển và hoàn thiện về mặt nhân cách, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội [12].S Dacuyn (1859), khái niệm thích ứng vốn là phạm trù cơ bản của sinh vật học với ý nghĩa là những quá trình, nhờ đó mà cơ thể thích ứng được với môi trường tự nhiên và môi trường hữu cơ. Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ, để thích ứng, mỗi cá nhân cần phải tự hiểu mình thông qua những đặc trưng mà bản thân coi đó là một giá trị được thừa nhận. Đồng thời để hiểu kỹ mình hơn, chính xác hơn, cần phải có sự tồn tại của một hoặc nhiều cá thể khác. Điều này cho thấy sự thích ứng của mỗi cá nhận được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và đều có sự tác động bởi ý thức.
Hay ý thức trở thành nhân tố thường trực tạo nên sự thành công hay thất bại của quá trình thích ứng.[8] Vậy, có thể hiểu thích ứng là hoạt động có định hướng, là kết quả của sự thích nghi với xã hội để dần tiến tới sự phù hợp với những biến đổi của môi trường và xã hội. Sự thích ứng được bắt đầu ngay từ khi một đứa trẻ chào đời, làm quen với môi trường mới, điều kiện sống mới và kết quả của thích ứng là hình thành được hệ thống ứng xử tương ứng với bản thân và phù hợp với môi trường, giúp cá nhân hòa nhập được với môi trường. Khái niệm về nghề nghiệp Nghề nghiệp theo nghĩa latinh có nghĩa là công việc chuyên môn được định hình một cách hệ thống, là dạng đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó để thực hiện hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại và phát triển.A, nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật 12 chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho con người có khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển.[25] Có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu cá nhân), trong đó con người với tu cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và các nhân. Như vậy, nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó hệ thống giá trị về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và hiệu quả do nghề mang lại.
Những giá trị này có thể được hình thành tự phát (do tích lũy kinh nghiệm) hoặc tự giác (do được đào tạo). Khái niệm về thích ứng nghề nghiệp Thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích ứng của người lao động với các điều kiện bên ngoài và bên trong của quá trình lao động. Trong xã hội học và tâm lý học người ta chia thành thích ứng xã hội và thích ứng nghề nghiệp. Trong đó, thích ứng nghề nghiệp là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà tuyển dụng vì đó là công cụ để giải quyết vấn đề năng suất và chất lượng công việc ở người lao động.Platonov chỉ ra: thích ứng nghề bao gồm một số kỹ năng thu được khi làm việc trong một tập thể và trong các mối quan hệ nhân cách của những tập thể nghề nghiệp khác nhau.
Theo quan niệm này thì thích ứng nghề là quá trình đưa con người vào lao động nghề nghiệp, là thời kỳ chuyển tiếp từ người học sang vị trí người lao động có tay nghề. Theo Nguyễn Văn Hộ, thích ứng nghề là một dạng thích ứng có quan hệ mật thiết với các dạng thích ứng khác, thích ứng nghề của một lao động tương lai là quá trình tiếp xúc của họ với các hoạt động nghề nghiệp, với những điều kiện học tập và lao động, với một tập thể mới. Như vậy, có thể hiểu thích ứng nghề của sinh viên là quá trình vận dụng các kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp đã được tích lũy thông qua chương trình đào tạo chuyên biệt và xã hội để tự điều 13 khiển, thay đổi hành vi cho phù hợp với hoàn cảnh, với nghề. Quá trình thích ứng nghề nghiệp của sinh viên có thể được chia ra làm bốn giai đoạn có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau: - Giai đoạn trước khi vào các trường Cao đẳng, Đại học, đây là giai đoạn hình thành định hướng nghề nghiệp trong quá trình học tập ở các các trường phổ thông.
- Giai đoạn những học kỳ đầu của khóa học tại trường Cao đẳng, Đại học, đây là giai đoạn đào tạo nghề nhằm củng cố hoặc điều chỉnh định hướng nghề nghiệp. - Giai đoạn học kỳ cuối của khóa học tại trường Cao đẳng, Đại học, đây là giai đoạn sinh viên tham gia thực tập nghề nghiệp, “thâm nhập” nghề nghiệp và nhân cách vào lao động nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp với nghề được đào tạo. - Giai đoạn sau khi tốt nghiệp khóa học tại trường Cao đẳng, Đại học, đây là giai đoạn sinh viên sau tốt nghiệp tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động nghề nghiệp, học hỏi và lĩnh hội những kỹ năng, phẩm chất nhân cách cần có của nghề nhằm đạt được sự cân bằng và tự nguyện gắn bó lâu dài với lĩnh vực nghề nghiệp mà mình tham gia.Khái niệm về phát triển kỹ năng thích ứng nghề nghiệp a. Khái niệm về kỹ năng thích ứng Kỹ năng thích ứng là sự vận dụng kiến thức đã có hoặc tích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện vào những tình huống cụ thể để đạt được những gì mình muốn.
Nội dung về kỹ năng thích ứng nghề nghiệp Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu kỹ năng thích ứng nghề nghiệp là sự vận dụng kiến thức đã có hoặc được tích lũy, biến đổi qua quá trình học tập, rèn luyện để quen dần với tính chất, nội dung và yêu cầu công việc của lao động nghề. Kỹ năng thích ứng nghề nghiệp được thể hiện như sau: - Mức độ ổn định và hiệu quả trong việc tích lũy các tri thức, kỹ năng 14 trong hoạt động học tập và lao động nghề nghiệp. - Mức độ ổn định và hiệu quả trong việc vận dụng các tri thức, kỹ năng vào hoạt động nghề nghiệp. - Thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức kỹ năng để cải tạo, sáng tạo bản thân và môi trường cho phù hợp với yêu cầu của hoạt động học tập và rèn luyện nghề, đáp ứng những yêu cầu về phẩm chất và kỹ năng nghề nghiệp.
- Kỹ năng thích ứng nghề nghiệp cho phép cá nhân thích nghi và đạt kết quả tốt trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của hoạt động nghề nghiệp. Cấu trúc của kỹ năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên: Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Long, cấu trúc của kỹ năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên gồm hai nhóm kỹ năng là kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng chuyên biệt. Hai nhóm kỹ năng này có vị trí và vai trò khác nhau nhưng tác động qua lại chặt chẽ với nhau.1: Cấu trúc của kỹ năng thích ứng nghề nghiệp Kỹ năng Kỹ năng nghề nghiệp chuyên biệt Kỹ năng thích ứng nghề nghiệp - Kỹ năng nghề nghiệp Theo TS. Vũ Xuân Hùng, kỹ năng nghề nghiệp được hiểu là khả năng của con người thực hiện công việc nghề nghiệp một cách có hiệu quả trong một thời gian thích hợp với các điều kiện nhất định, dựa vào sự tích hợp nhuần nhuyễn các kiến thức, kỹ năng, thái độ[10].
Kỹ năng nghề nghiệp không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình học tập rèn luyện trong các hoạt động thực hành, thực tập nghề nghiệp, trong các hoạt động trải nghiệm, trong cuộc sống hàng ngày với một sự tận tụy, tâm huyết trong công việc của mỗi người. Kỹ năng nghề nghiệp được chia thành hai nhóm: kỹ năng chung và kỹ 15 năng riêng của nghề. Kỹ năng chung là kỹ năng biểu hiện ở mọi hoạt động của con người như kỹ năng sử dụng các công cụ lao động, kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nghiên cứu,.