chương 1, kỹ năng cần thiết liên quan đến xu hướng khởi nghiệp kinh doanh có thể đề cập đến kỹ năng chính trị. Việc tìm hiểu sâu sắc các khái niệm liên quan cho ta cơ sở để tiếp tục tìm hiểu mối quan này. Xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh Theo Nguyễn Như Ý và ctg (2007), khởi nghiệp kinh doanh được hiểu là bắt đầu sự nghiệp từ việc đầu tư vốn kinh doanh hay mở cửa hàng kinh doanh. Còn Krueger & Carsrud (1993) cho rằng hành vi kinh doanh như việc bắt đầu mở một dự án kinh doanh là xu hướng và dự báo tốt nhất bởi xu hướng hướng về hành vi chính xác.
Họ cho rằng xu hướng là nhân tố thúc đẩy ảnh hưởng hành vi. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết hành vi mà tình trạng xu hướng là tiền đề trực tiếp của hành vi thật (Ajzen, 1991). Một số nghiên cứu kết luận rằng việc tạo ra một dự án là do hành vi được lập kế hoạch, và đấy là xu hướng (Kolvereid, 1996; Krueger & Carsrud, 1993). Vì vậy, xu hướng là một chỉ số dự báo hành vi tốt hơn là thái độ.
Trong tâm lý học, xu hướng được chứng minh là một dự báo tốt nhất của hành vi được lập kế hoạch, và trong thực tế biến xu hướng trở thành một phần của một số các lý thuyết đương thời về hành vi xã hội con người (Ajzen & Fishbein, 2002). Theo Ajzen & Fishbein (1980), có 3 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng hành vi: (1) thái độ đối với hành vi của một người là suy xét về tác động của các hành vi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 mong muốn cho dù là tốt hay xấu; (2) chuẩn chủ quan của nhóm xã hội đề cập đến những gì những người quan trọng đối với cá nhân đó suy nghĩ về thực hiện các hành vi xu hướng; (3) nhận thức hành vi kiểm soát của một cá nhân là sự suy xét, khả năng nhìn nhận của mình để có những hành vi xu hướng. Theo mô hình của Ajzen & Fishbein (1986), thái độ và niềm tin dự báo xu hướng, rồi xu hướng sẽ dự báo tiếp hành vi. Ngoài ra, Ajzen & Driver (1992) nhấn mạnh rằng "thuận lợi hơn các thái độ và chuẩn chủ quan đối với hành vi, và nhận thức hành vi kiểm soát càng mạnh thì xu hướng của một cá nhân để thực hiện các hành vi sẽ được xem xét ".
Xu hướng là sự hội tụ, tập trung của các lý thuyết xung quanh sự nghiên cứu ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào một hành vi nhất định mà cung cấp một khung lý thuyết mà xu hướng khởi nghiệp kinh doanh có thể được nghiên cứu. Xu hướng kinh doanh (entrepreneurial intention) đề cập đến xu hướng để thực hiện hành vi kinh doanh. Xu hướng khởi nghiệp kinh doanh được định nghĩa như là xu hướng để bắt đầu một doanh nghiệp mới (intention to start a new business) (Krueger & Brazeal,1994; Zhao và ctg, 2005), xu hướng của riêng một doanh nghiệp (the intention to own a business) (Crant, 1996), hay xu hướng sẽ được tự làm chủ (self – employment intention) (Kolvereid, 1996). Sinh viên chưa tốt nghiệp là nhóm người đang trong giai đoạn đầu của lựa chọn nghề nghiệp, thang đo xu hướng khởi nghiệp sẽ cung cấp tập biến quan sát cung cấp các biến quan sát từ thích thú việc tự làm chủ hay quyền sở hữu kinh doanh cho đến xu hướng kinh doanh lâu dài.
Sinh viên sẽ không chọn việc khởi nghiệp kinh doanh nếu xu hướng lựa chọn nó không cao. Kỹ năng chính trị Một cơ sở lý thuyết quan trọng cho hoạt động chính trị trong các tổ chức được đề xuất bởi Mintzberg (1983, 1985) ở hai thập kỷ trước. Mintzberg cho rằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 chúng ta có thể xem tổ chức như những đấu trường chính trị6, mỗi cá nhân cần thể hiện hai phẩm chất quan trọng để đạt hiệu quả. Đầu tiên, ông cho rằng trước khi tham gia vào hành vi “chính trị”, cá nhân cần biểu hiện sự sẵn sàng của họ hoặc động cơ để sử dụng hết những nguồn lực cá nhân, Mintzberg gọi đó là ‘ý chí chính trị’.
Thứ hai, Mintzberg cho rằng điều đó cũng không đủ để cho các cá nhân sẵn sàng thực hiện những hành vi chính trị, mà họ cũng cần phải sở hữu năng lực để thực hiện những hành vi này một cách khôn khéo và hiệu quả chính trị nhất, và nó được gọi là “kỹ năng chính trị”. Sau này, Hollander (1995) “Nêu bật rằng nghiên cứu về lãnh đạo bây giờ là tập trung hơn vào vai trò của những người theo mình”. Đây cũng là một phần quan trọng, nó như là kết quả của lợi ích nhiều hơn trong làm việc nhóm, và sự tham gia của người lao động. Trong nhiều tình huống vai trò của người lãnh đạo sẽ là người tham gia hơn, là người duy trì hoạt động tập thể hơn.
Với vai trò này thì có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền lực và chính trị trong chính hành xử lãnh đạo của họ. Chính trị được nhận biết như là sức mạnh trong hành động và có thể ảnh hưởng đến những hoạt động không mong muốn như là một phần vai trò lãnh đạo của mình, và nó cũng ảnh hưởng đến sự phân bổ những lợi thế và bất lợi trong tổ chức. Như trong nghiên cứu của Peled (2000), kỹ năng chính trị là vũ khí bí mật cho những lãnh đạo thành công. Ông biện luận rằng ở đây có một sự khác nhau giữa kỹ năng con người với nhau, liên quan đến điều này như là sự thoải mái và dễ chịu trong giao tiếp giữa lãnh đạo và nhân viên, đồng nghiệp, cấp trên và khách hàng, và kỹ năng chính trị có liên quan đến những điều này như là khả năng lôi kéo quan hệ con người với nhau của họ với nhân viên, đồng nghiệp, 6 Tổ chức (Nguyễn Như Ý và ctg, 2007): tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhật định để hoạt động vì lợi ích chung.
Các tổ chức mà sinh viên hiện tham gia: Tổ chức lờp học, tổ chức đoàn thể (nhóm, câu lạc bộ), tổ chức làm việc (môi trường làm thêm). Chính trị (Nguyễn Như Ý và ctg, 2007) được hiểu là những hiểu biết về mục đích, đường lối (chính sách đối nội và quan hệ quốc tế) và nhiệm vụ đấu tranh của các chính đảng (quần chúng). Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này tác giả sử dụng với ý nghĩa là: “Chính trị được nhận biết như là sức mạnh trong hành động và có thể ảnh hưởng đến những hoạt động không mong muốn và nó cũng ảnh hưởng đến sự phân bổ những lợi thế và bất lợi trong tổ chức.” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 khách hàng, và giám sát. Tuy nhiên, Perrewe và ctg (2000) chỉ đơn thuần mô tả kỹ năng chính trị như là kỹ năng con người với nhau.
Bên cạnh đó, Ferris và ctg (1994) đã biện luận rằng nhiều quyền lực quản lý được quyết định bởi khả năng lèo lái một cách hiệu quả tình huống chính trị trong tổ chức. Trong tổ chức các yêu cầu kỹ năng làm việc, thì hầu như kỹ năng chính trị rất hạn chế được đề cập, mà thường thấy xuất hiện, đó là “Kỹ năng xã hội”7 (Wu, 2008), là một khái niệm như là một trong số khái niệm con của khái niệm hiệu quả. Hiệu quả xã hội được định nghĩa là “khả năng để đọc, hiểu, và điều khiển tương tác xã hội một cách hiệu quả (Ferris và ctg, 2002), và nó có các tên như là: kỹ năng xã hội, thông minh xã hội, thông minh xúc cảm, và kỹ năng chính trị. Mặc dù những khái niệm hiệu quả xã hội góp phần vào các cấp độ khác nhau của thành công giữa cá nhân với nhau, kỹ năng xã hội, kỹ năng chính trị đã nhận được sự chú ý đáng kể, bởi vì nó có thể quan sát nhiều hơn và dễ đào tạo hơn sự thông minh hay là tính cách, và nó là một kỹ năng có thể sử dụng trong nhiều môi trường khác nhau.
Kỹ năng chính trị là một kỹ năng đặc biệt và nó được sử dụng trong sự sắp đặt tổ chức (Ferris và ctg, 2001). Và mãi sau này, trong những nghiên cứu tiếp theo của Ferris, ông đã làm rõ khái niệm “kỹ năng chính trị”, và khái niệm này được thể hiện cụ thể hơn qua thang đo gồm 18 biến. Đây là một khái niệm bậc 2 và nó gồm có 4 thành phần. Thành phần năng lực mạng lưới (Networking Ability): Cá nhân với kỹ năng chính trị này là người lão luyện trong nhận biết và phát triển những liên lạc khác nhau và mạng lưới con người.
Họ có phong cách đặc trưng nhạy cảm, kỹ năng chính trị cá nhân phát triển mối quan hệ dễ dàng và xây dựng liên minh hoặc lợi ích 7 Kỹ năng xã hội đang trở nên ngày càng quan trọng tại nơi làm việc ngày hôm nay, bởi vì cơ cấu tổ chức đang trở nên phẳng hơn với nhiều dịch vụ theo định hướng vị trí. Kỹ năng xã hội mạnh có thể tạo điều kiện tương tác giữa cá nhân với nhau, mà nó có thể dẫn đến kết quả công việc hiệu quả. Mặc dù sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức và tầm quan trọng của các kỹ năng xã hội đã nâng cao nhận thức về kỹ năng xã hội trong các kết quả tổ chức, rất ít được biết về các kỹ năng xã hội là gì và vai trò của nó trong ảnh hưởng đến kết quả công việc. Kỹ năng xã hội ảnh hưởng đến công việc và kết quả thành công của nghề nghiệp (Wu, 2008).
Kỹ năng xã hội như là một hành vi xã hội có thể học được và được sử dụng để đạt được mục tiêu xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 chung mạnh và có lợi. Hơn nữa, kỹ năng này cao thì còn tạo ra các cơ hội lợi thế. Pfeffer (1992) mô tả các nhân viên có thể vào mạng lưới như là một trong số những người sử dụng tính chất xây dựng của các tổ chức xã hội để tạo ra và tận dụng các cơ hội.
Vốn xã hội được mô tả là nguồn lực tích lũy cho lợi ích của một người thông qua các quan hệ xã hội và ràng buộc cá nhân lẫn nhau (Coleman, 1988). Mạng lưới, cả bên trong và bên ngoài tổ chức, cho phép nhân viên tích lũy vốn xã hội cần thiết để nhận được sự thăng tiến. Cá nhân sở hữu năng lực này là người có kỹ năng thành thạo trong giao dịch và lão luyện trong quản trị xung đột. Nghiên cứu này đề xuất rằng những cá nhân có hiệu quả mạng lưới sẽ có xu hướng khởi nghiệp kinh doanh.