Luận văn: Kinh tế nông nghiệp các huyện đồng bằng Quảng Nam (1997-2017) - ĐH Đà Nẵng

Phân tích kinh tế nông nghiệp tại các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1997-2017. Nghiên cứu sự phát triển và thay đổi trong sản xuất nông nghiệp.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

136
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá Kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997 2017 Tổng quan Tiền đề

Giai đoạn 1997-2017 đánh dấu 20 năm phát triển quan trọng của tỉnh Quảng Nam sau khi chia tách. Trong bối cảnh đó, kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 giữ vai trò nền tảng, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Sự phát triển này không chỉ cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân mà còn góp phần quan trọng vào sự ổn định và tăng trưởng kinh tế - xã hội chung của các huyện đồng bằng. Luận văn nghiên cứu sâu sắc về các tiền đề tự nhiên, xã hội và chính sách đã định hình bộ mặt nông nghiệp khu vực này. Việc hiểu rõ những yếu tố nền tảng này giúp đánh giá khách quan thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững Quảng Nam trong tương lai. Sự quan tâm từ Trung ương, tỉnh và nỗ lực của chính quyền địa phương đã tạo ra những chuyển biến rõ nét về quy mô và hiệu quả sản xuất, đồng thời tăng cường giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam theo thời gian. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về bức tranh kinh tế nông nghiệp Quảng Nam trong hai thập kỷ đầy biến động. Hiểu rõ các yếu tố cấu thành và thúc đẩy sự phát triển của ngành này là chìa khóa để định hướng cho những giai đoạn tiếp theo.

1.1. Bối cảnh Quảng Nam từ chia tách tỉnh đến năm 2017

Từ năm 1997, khi tỉnh Quảng Nam được tái lập từ việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, các huyện đồng bằng bao gồm Tam Kỳ, Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành và sau này có thêm Phú Ninh (từ năm 2005) đã đối mặt với nhiều khó khăn nhưng cũng mở ra những cơ hội mới. Khu vực đồng bằng có diện tích tự nhiên 190.713,7 ha, với 130.892,7 ha đất nông nghiệp, chiếm 68,64% tổng diện tích, cho thấy tiềm năng lớn cho kinh tế nông nghiệp Quảng Nam [62, tr. 15]. Các huyện này nằm dọc theo vùng ven biển, mang nét tương đồng về địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất. Tuy nhiên, mỗi địa phương cũng có đặc trưng riêng về xuất phát điểm kinh tế - xã hội, ưu thế phát triển ngành và cách thức chỉ đạo. Ví dụ, Hội An nổi tiếng với di sản văn hóa, trong khi Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình và Phú Ninh có lợi thế phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Huyện Núi Thành cùng một phần Thăng Bình, Phú Ninh và Tam Kỳ lại mạnh về nuôi trồng thủy hải sản. Nhìn chung, sự đa dạng này đòi hỏi các chính sách nông nghiệp Quảng Nam linh hoạt để khai thác tối đa lợi thế của từng vùng. Các đơn vị hành chính cấp huyện như thành phố Tam Kỳ, Hội An, thị xã Điện Bàn và các huyện đồng bằng còn lại đều đã có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, mang trong mình những tiềm năng và thách thức riêng biệt. Bối cảnh hành chính mới sau chia tách đã buộc tỉnh phải chủ động hơn trong việc xây dựng định hướng phát triển, đặc biệt là cho lĩnh vực nông nghiệp then chốt này.

1.2. Tiền đề tự nhiên và nguồn nhân lực thúc đẩy nông nghiệp bền vững Quảng Nam

Tiền đề tự nhiên là yếu tố quan trọng định hình kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017. Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình 25,4 độ C và lượng mưa lớn (2.000-2.500mm), tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt và nuôi trồng thủy sản [6, tr. 14]. Hệ thống sông ngòi dày đặc như Thu Bồn, Vu Gia, Tam Kỳ cung cấp nguồn nước dồi dào, đồng thời bồi đắp phù sa màu mỡ cho các cánh đồng ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An. Nguồn tài nguyên đất đa dạng bao gồm đất phù sa, đất cát ven biển và đất đỏ vàng, phù hợp cho nhiều loại cây trồng và mục đích sử dụng khác nhau. Diện tích đất nông nghiệp lớn, chiếm 68,64% diện tích tự nhiên của các huyện đồng bằng, là tiền đề hàng đầu cho phát triển nông nghiệp [62, tr. 15]. Về nguồn nhân lực, dân số các huyện đồng bằng tăng từ 853.841 người năm 1997 lên 951.484 người năm 2017, với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao (60,9% năm 1997 và 62,5% năm 2017), trong đó lao động nông nghiệp chiếm ưu thế [12, tr. 17; 15, tr. 17]. Lực lượng lao động dồi dào, trẻ và năng động, cùng với các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đã nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp bền vững Quảng Nam, dù có xu hướng chuyển dịch sang các ngành công nghiệp và dịch vụ [57, tr. 19; 63, tr. 19]. Những yếu tố này tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Quảng Nam.

1.3. Chính sách nông nghiệp Quảng Nam và đường lối phát triển then chốt

Trong giai đoạn 1997-2017, chính sách nông nghiệp Quảng Nam được định hình bởi các chủ trương lớn từ Đảng và Nhà nước, cùng với các chính sách cụ thể của tỉnh. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII (1998) về phát triển nông nghiệp và nông thôn đã khẳng định vai trò nền tảng của nông nghiệp trong ổn định kinh tế - xã hội, đồng thời khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và đầu tư cho nông nghiệp [24, tr. 20]. Nghị quyết 06-NQ/TW của Ban Bí thư (1998) nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, gắn sản xuất với thị trường và xây dựng nông thôn mới [26, tr. 21]. Chính phủ ban hành Nghị quyết 09 (2000) cho phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là đất lúa kém hiệu quả, sang các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn [26, tr. 21]. Đại hội IX của Đảng (2001) tiếp tục định hướng tăng cường chỉ đạo và huy động nguồn lực để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực Quảng Nam và nâng cao chất lượng nông sản Quảng Nam [25, tr. 22]. Tỉnh Quảng Nam cụ thể hóa các chủ trương này thông qua các nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, chương trình hành động số 08-CTr/TU (1998) nhấn mạnh đảm bảo an toàn lương thực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam theo hướng CNH, HĐH, và thu hút đầu tư nông nghiệp Quảng Nam [20, tr. 25]. Các chính sách về “dồn điền, đổi thửa”, phát triển thủy lợi nhỏ, và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp cũng được ban hành, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 [41, tr. 25; 160/2010/NQ-HĐND; 178/2015/NQ-HĐND].

II. Thách thức lớn Hạn chế của Kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997 2017

Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể, kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém. Những thách thức này không chỉ gây khó khăn cho quá trình phát triển mà còn ảnh hưởng đến thu nhập nông dân Quảng Nam và khả năng cạnh tranh của nông sản Quảng Nam trên thị trường. Việc nhận diện và phân tích sâu các vấn đề tồn tại là cần thiết để đưa ra những giải pháp phù hợp, thúc đẩy nông nghiệp bền vững Quảng Nam. Các hạn chế này bao gồm từ cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật đến đầu tư và thị trường tiêu thụ. Tình trạng này phản ánh một thực tế rằng, dù có tiềm năng lớn, nhưng ngành nông nghiệp của các huyện đồng bằng vẫn chưa phát huy hết thế mạnh. Sự thiếu ổn định trong đầu ra sản phẩm và mô hình hoạt động chưa hiệu quả của các hợp tác xã nông nghiệp Quảng Nam là những ví dụ điển hình cho những rào cản cần được tháo gỡ. Để kinh tế nông nghiệp Quảng Nam thực sự phát triển, việc khắc phục những điểm yếu này là nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía.

2.1. Phân tích điểm yếu về Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quảng Nam và sản xuất

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quảng Nam trong giai đoạn 1997-2017 còn bộc lộ nhiều điểm yếu, đặc biệt là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam trong sản xuất nông nghiệp diễn ra chậm so với xu thế phát triển kinh tế - xã hội chung [Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Văn Thi, Tóm tắt]. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang tính manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu dưới hình thức hộ gia đình và cá thể, chưa hình thành được những vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn [Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Văn Thi, Lý do chọn đề tài]. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình sản xuất và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam. Sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa chưa phát triển mạnh, chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa và thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường nông sản Quảng Nam lớn hơn. Đầu ra cho nông sản Quảng Nam thiếu ổn định, giá cả bấp bênh, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập nông dân Quảng Nam. Ngoài ra, mô hình hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp Quảng Nam chưa thực sự hiệu quả, thiếu liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ, làm giảm khả năng nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam thông qua chế biến sâu.

2.2. Biến đổi khí hậu Quảng Nam và tác động tiêu cực đến nông nghiệp

Biến đổi khí hậu Quảng Nam đã và đang tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn 1997-2017. Vùng đồng bằng tỉnh thường xuyên đối mặt với các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán và xâm nhập mặn [66, tr. 14]. Những cơn bão và mưa lớn vào mùa đông gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản, và đặc biệt là hoa màu, sản xuất nông nghiệp. Mặc dù lũ lụt có thể bồi đắp phù sa, nhưng mức độ tàn phá lớn do thiên tai đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng cây trồng chủ lực Quảng Namvật nuôi Quảng Nam. Ngoài ra, gió Tây Nam khô nóng vào mùa hè cùng với hiện tượng sương muối ở vùng ven biển cũng gây hại đến cây trồng và vật nuôi. Các huyện đồng bằng thường xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những thay đổi bất thường của khí hậu, làm tăng rủi ro trong sản xuất và đòi hỏi người nông dân phải liên tục ứng phó. Điều này đặt ra áp lực lớn lên việc quy hoạch sản xuất, lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu, và xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai. Sự thiếu chủ động trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu Quảng Nam đã làm giảm hiệu quả đầu tư nông nghiệp Quảng Nam và cản trở mục tiêu nông nghiệp bền vững Quảng Nam.

III. Cách Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam Nông nghiệp đổi mới 1997 2017

Để vượt qua những thách thức và khai thác tối đa tiềm năng, kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 đã chứng kiến nhiều nỗ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Các huyện đồng bằng đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Điều này bao gồm từ việc tuyên truyền nâng cao nhận thức người nông dân, đến quy hoạch lại sản xuất theo hướng chuyên canh và chuyển đổi cây trồng chủ lực Quảng Nam, vật nuôi Quảng Nam phù hợp với điều kiện địa phương. Mục tiêu là không chỉ tăng năng suất mà còn nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam, tạo ra nông sản Quảng Nam có chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Việc đổi mới tư duy sản xuất từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa là một bước tiến quan trọng, đòi hỏi sự thay đổi từ cấp độ hộ gia đình đến toàn ngành. Sự hỗ trợ từ các chính sách nông nghiệp Quảng Nam và sự chủ động của chính quyền địa phương đã tạo động lực cho quá trình này. Tuy nhiên, tốc độ và hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam vẫn cần được đẩy mạnh hơn nữa để đạt được những đột phá bền vững.

3.1. Hướng dẫn quy hoạch vùng Cây trồng chủ lực Quảng Nam và mô hình sản xuất mới

Trong nỗ lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam, các huyện đồng bằng đã đẩy mạnh quy hoạch lại ngành trồng trọt. Tập trung giảm dần diện tích cây lương thực kém hiệu quả, thay vào đó là tăng diện tích các loại cây rau đậu, cây công nghiệp ngắn và dài ngày có giá trị kinh tế cao hơn. Quy hoạch này dựa trên khảo sát điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu từng địa phương, ưu tiên đất màu mỡ cho lúa và đất khô hạn cho rau, đậu, lạc [Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Văn Thi, Chương 2, mục 2.2.1]. Một 'cuộc cách mạng' quan trọng là chuyển đổi sản xuất lúa từ 3 vụ bấp bênh sang 2 vụ 'ăn chắc', hoàn thành vào năm 2002 [72]. Giải pháp này đã giúp tăng hiệu quả và năng suất trồng lúa gấp 2-3 lần. Các giống lúa mới chịu hạn, ít sâu bệnh, năng suất cao được đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, các huyện như Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên đã hình thành vùng sản xuất rau sạch, an toàn. Phú Ninh chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng dưa hấu, bắp, mè, giúp tăng thu nhập nông dân Quảng Nam. Các giống cây trồng mới như lạc năng suất cao (L14, L23, LDH 01, TB25), ngô lai F1 (CP 333, CP 888, PAC 339, PAC 999) cũng được du nhập để ứng phó với biến đổi khí hậu Quảng Nam [56, tr. 40]. Các mô hình kinh tế trang trại vườn - ao - chuồng (VAC) và các hình thức kinh tế hợp tác cũng được khuyến khích phát triển, hỗ trợ vay vốn và thủ tục đất đai, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Naman ninh lương thực Quảng Nam.

3.2. Bí quyết phát triển Vật nuôi Quảng Nam theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa

Lĩnh vực chăn nuôi tại các huyện đồng bằng Quảng Nam cũng trải qua quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam mạnh mẽ theo hướng CNH, HĐH. Các địa phương như Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình và Phú Ninh đã triển khai quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, đầu tư nông nghiệp Quảng Nam vào hệ thống chuồng trại hiện đại, thiết bị cung cấp thức ăn tự động và sử dụng thức ăn công nghiệp. Trọng tâm là chuyển đổi từ chăn nuôi bò thông thường sang bò lai, bò thịt chất lượng cao, và phát triển chăn nuôi bò sữa. Đồng thời, ngành chăn nuôi lợn cũng chuyển dịch sang lợn nạc, thay thế các giống truyền thống như lợn móng cái và lợn cỏ. Các mô hình chăn nuôi gà trang trại, nông trại cũng được đẩy mạnh để tăng số lượng đàn gà thịt, gà lấy trứng. Việc đưa vào chăn nuôi các con giống mới có giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam cao là một yếu tố then chốt. Những giải pháp này đã từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quảng Nam trong lĩnh vực chăn nuôi, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản phẩm vật nuôi Quảng Nam, góp phần đáng kể vào giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam và đáp ứng nhu cầu thị trường nông sản Quảng Nam. Đây là bước đi quan trọng để tạo ra các sản phẩm nông sản Quảng Nam có giá trị kinh tế cao hơn và tăng cường khả năng cạnh tranh.

3.3. Tăng cường Nuôi trồng thủy sản Quảng Nam bền vững và khai thác tiềm năng

Trong kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017, ngành nuôi trồng thủy sản Quảng Nam cũng có những bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam đáng chú ý. Ban đầu, trọng tâm là nuôi tôm sú ở các vùng ven biển Hội An, Thăng Bình và Núi Thành. Tuy nhiên, do môi trường nuôi suy thoái, các địa phương đã chuyển đổi một số diện tích sang nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh có hiệu quả kinh tế cao hơn. Để đảm bảo nông nghiệp bền vững Quảng Nam trong lĩnh vực này, UBND tỉnh đã ban hành Đề án 'Quản lý nuôi trồng thủy sản nước lợ theo hướng dựa vào cộng đồng tại Quảng Nam đến năm 2015' [58]. Đề án này thúc đẩy nuôi thủy sản nước lợ bền vững, cải thiện sinh kế và thu nhập nông dân Quảng Nam. Các nhóm cộng đồng được hỗ trợ thông tin thị trường, thiết bị đo môi trường, và chi phí xét nghiệm giống tôm. Ngoài ra, việc phát triển nuôi cá lồng bè nước ngọt (cá dìa, diêu hồng, cua) ở Duy Xuyên, Phú Ninh trên các hồ chứa thủy lợi và dọc sông đã mang lại hiệu quả cao hơn gấp 2-3 lần so với ao nuôi truyền thống, đồng thời mở rộng tiềm năng thủy sản Quảng Nam và tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam.

IV. Phương pháp Ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam Đột phá năng suất

Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam là một trong những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017. Các huyện đồng bằng đã chủ động triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam. Điều này bao gồm từ việc nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật đến việc chuyển giao công nghệ từ các viện, trường đại học cho người nông dân. Sự đổi mới trong công nghệ sản xuất không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình canh tác, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro từ biến đổi khí hậu Quảng Nam và nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Quảng Nam. Việc khuyến khích đầu tư nông nghiệp Quảng Nam vào các công nghệ tiên tiến cũng là một yếu tố quan trọng, tạo tiền đề cho nông nghiệp công nghệ cao Quảng Nam. Chính những tiến bộ khoa học này đã giúp ngành nông nghiệp chuyển mình, từ sản xuất truyền thống sang hiện đại, mang lại lợi ích thiết thực cho thu nhập nông dân Quảng Nam và hướng tới nông nghiệp bền vững Quảng Nam.

4.1. Cách Ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam tăng năng suất và chất lượng

Trong giai đoạn 1997-2017, các huyện đồng bằng Quảng Nam đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam để tăng năng suất và chất lượng. Các hoạt động nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp được khuyến khích, liên kết với các viện nghiên cứu, Sở KH&CN để tiếp nhận và chuyển giao kết quả. Ví dụ, việc áp dụng tưới nước tiết kiệm 'ướt khô xen kẽ' cho lúa, giảm phát thải khí nhà kính từ năm 2014, và ứng dụng đề tài 'Xác định liều lượng phân bón hợp lý cho các chân đất lúa chính tại Quảng Nam' ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình [35]. Việc sử dụng các chế phẩm sinh học trong trồng trọt (lúa, rau quả, dưa, hoa cây cảnh) đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất. Các mô hình nông nghiệp công nghệ cao Quảng Nam như sản xuất rau thủy canh, sử dụng nhà kính, hệ thống tưới tiêu và giám sát tự động, công nghệ nuôi tôm hai giai đoạn cũng ngày càng phổ biến. Các giống cây trồng mới như lạc (L14, L23, LDH 01, TB25), ngô lai F1, ngô ngắn ngày chịu hạn (CP 333, CP 888, PAC 339, PAC 999), măng tây xanh giống Thái Lan, hoa Lily nhập nội từ Hà Lan, keo lai nuôi cấy mô được du nhập, góp phần tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam [56, tr. 40]. Những cải tiến này không chỉ tăng sản lượng mà còn cải thiện chất lượng nông sản Quảng Nam, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nông sản Quảng Nam.

4.2. Vai trò Đầu tư nông nghiệp Quảng Nam và xây dựng hạ tầng

Đầu tư nông nghiệp Quảng Nam đóng vai trò then chốt trong quá trình hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam giai đoạn 1997-2017. Sau chia tách tỉnh, sản xuất nông nghiệp từng bước được đầu tư về cơ sở hạ tầng. Các chính sách nông nghiệp Quảng Nam đã tập trung vào việc bê tông hóa hệ thống kênh mương nội đồng, khai thác và sử dụng năng lượng điện trong sản xuất nông nghiệp, ví dụ như công trình Đại thủy nông Phú Ninh hoàn thành năm 1987 đã tưới tiêu cho 23.000 ha và phục vụ sinh hoạt, đặc biệt các huyện phía nam đồng bằng [67]. Các công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi đất màu và kiên cố hóa kênh mương cũng được tỉnh hỗ trợ phát triển (Nghị quyết 160/2010/NQ-HĐND của HĐND tỉnh), giúp tăng hiệu quả sử dụng nước, giảm chi phí và nâng cao sản lượng. Chính sách nông nghiệp Quảng Nam còn khuyến khích đầu tư nông nghiệp Quảng Nam thông qua Nghị quyết số 178/2015/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, tạo điều kiện ưu đãi về thuế và đất đai để thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư. Điều này đã giúp xây dựng nền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam và cải thiện thu nhập nông dân Quảng Nam, đồng thời giảm thiểu những hạn chế về hạ tầng nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ. Việc tập trung đầu tư nông nghiệp Quảng Nam vào hạ tầng cơ bản là nền tảng để phát triển nông nghiệp bền vững Quảng Nam.

4.3. Nâng cao Giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam qua chế biến nông sản

Trong kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017, việc nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam thông qua chế biến nông sản là một hướng đi chiến lược. Mặc dù trước năm 1997, hoạt động sơ chế nông sản còn nhiều hạn chế, chủ yếu là sản phẩm thô, giá trị xuất khẩu không cao, chỉ phục vụ nhu cầu địa phương và chăn nuôi [Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Văn Thi, Chương 2, mục 2.1.4]. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau, khi nhận thức về sản xuất hàng hóa tăng lên, các địa phương đã chú trọng hơn đến công nghệ sau thu hoạch và chế biến. Việc hình thành các chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam từ khâu sản xuất đến sơ chế và tiêu thụ là mục tiêu quan trọng. Các loại nông sản Quảng Nam như lúa, ngô, khoai, sắn, đậu phụng, cùng với sản phẩm từ vật nuôi Quảng Nam (thịt lợn, gia cầm) và thủy sản Quảng Nam (tôm, cá khô, nước mắm) đã được quan tâm chế biến sâu hơn. Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế về máy móc, thiết bị kỹ thuật, việc áp dụng các phương pháp chế biến tiên tiến hơn đã giúp kéo dài thời gian bảo quản, đa dạng hóa sản phẩm và tăng giá trị thương phẩm. Điều này không chỉ giúp mở rộng thị trường nông sản Quảng Nam mà còn góp phần cải thiện đáng kể thu nhập nông dân Quảng Nam, giảm sự phụ thuộc vào đầu ra bấp bênh và thúc đẩy phát triển nông thôn Quảng Nam một cách bền vững.

V. Kết quả thực tiễn Thành tựu Kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997 2017 đạt được

Kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ một nền nông nghiệp còn nhiều khó khăn sau chia tách, ngành này đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, cải thiện đáng kể an ninh lương thực Quảng Namthu nhập nông dân Quảng Nam. Các giải pháp về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Namđầu tư nông nghiệp Quảng Nam đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam không ngừng tăng lên qua các thời kỳ, cho thấy sự nỗ lực của cả chính quyền và người dân. Các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản đều có những bước phát triển tích cực, tạo ra nguồn nông sản Quảng Nam dồi dào, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, việc đánh giá thành tựu này cũng cần nhìn nhận khách quan, để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các giai đoạn phát triển tiếp theo, hướng tới mục tiêu nông nghiệp bền vững Quảng Nam và nâng cao vị thế của thị trường nông sản Quảng Nam.

5.1. Thành quả của ngành trồng trọt An ninh lương thực Quảng Nam và năng suất tăng

Trong giai đoạn 1997-2017, ngành trồng trọt của kinh tế nông nghiệp Quảng Nam đã đạt được thành quả ấn tượng, đặc biệt là trong việc đảm bảo an ninh lương thực Quảng Nam. Nhờ các chính sách nông nghiệp Quảng Nam và nỗ lực của người dân, diện tích và sản lượng cây trồng chủ lực Quảng Nam như lúa, ngô, khoai, sắn đã được cải thiện đáng kể. Việc chuyển đổi từ 3 vụ lúa sang 2 vụ 'ăn chắc' đã giúp tăng năng suất lên 2-3 lần so với trước [72]. Các giống lúa mới chịu hạn, ít sâu bệnh được đưa vào sản xuất đã nâng cao hiệu quả canh tác. Năm 1996, bình quân sản lượng lương thực đạt 253 kg/người [8, tr. 32]. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam như tưới nước tiết kiệm và sử dụng phân bón hợp lý đã góp phần tối ưu hóa sản lượng. Mặc dù tỷ trọng cây lương thực trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quảng Nam có sự điều chỉnh giảm dần để nhường chỗ cho các cây công nghiệp, rau đậu, cây ăn quả, nhưng tổng sản lượng vẫn đảm bảo nhu cầu của người dân. Các vùng chuyên canh rau sạch, dưa hấu, bắp, mè ở Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình và Phú Ninh không chỉ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam mà còn đa dạng hóa nông sản Quảng Nam, góp phần ổn định nguồn cung và cải thiện thu nhập nông dân Quảng Nam.

5.2. Sự phát triển của chăn nuôi và nông sản Quảng Nam trên thị trường

Lĩnh vực chăn nuôi của kinh tế nông nghiệp Quảng Nam cũng đạt được những kết quả quan trọng trong giai đoạn 1997-2017. Sự phát triển này chủ yếu nhằm cung ứng nhu cầu thịt và các sản phẩm từ vật nuôi Quảng Nam cho người dân, đồng thời một phần nhỏ cung ứng cho các tỉnh lân cận. Đến cuối năm 1996, tổng đàn lợn đạt 281.098 con, đàn trâu đạt 23.703 con và đàn bò đạt 135.315 con [11, tr. 33]. Đàn gia cầm cũng tăng mạnh, từ 331.225 con năm 1976 lên 1.820.911 con năm 1996 [11, tr. 34]. Mặc dù phần lớn chăn nuôi vẫn theo hình thức hộ gia đình và tự phát, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam sang các mô hình trang trại, nông trại và sử dụng giống vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao hơn (bò lai, lợn nạc) đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Các hoạt động chăn nuôi được tổ chức kết hợp với trồng trọt, tận dụng sản phẩm nông nghiệp làm thức ăn, giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả. Tuy vẫn đối mặt với rủi ro dịch bệnh và thiếu đầu tư nông nghiệp Quảng Nam đồng bộ, ngành chăn nuôi đã góp phần quan trọng vào việc cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho thị trường nông sản Quảng Nam và cải thiện đời sống thu nhập nông dân Quảng Nam. Các nông sản Quảng Nam từ chăn nuôi ngày càng đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng.

5.3. Vai trò của nuôi trồng thủy sản và thu nhập nông dân Quảng Nam

Ngành nuôi trồng thủy sản Quảng Nam đã có những bước phát triển tích cực, đóng góp vào kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 và cải thiện thu nhập nông dân Quảng Nam. Với lợi thế hệ thống sông ngòi, ao hồ và bờ biển dài 125 km cùng 30.000 ha mặt nước, tiềm năng cho thủy sản Quảng Nam là rất lớn [12, tr. 35]. Sản lượng thủy sản các huyện đồng bằng năm 1996 đạt 30.115 tấn, tăng 1,7 lần so với năm 1976 [11, tr. 35]. Ban đầu, nuôi trồng tập trung ở vùng nước ngọt với các loại cá mè, rô phi, trắm cỏ, lóc và tôm nước ngọt. Đến sau năm 1997, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam trong nuôi trồng thủy sản được đẩy mạnh, tập trung phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh ở vùng nước lợ, thay thế dần tôm sú truyền thống. Các mô hình nuôi cá lồng bè nước ngọt (cá dìa, diêu hồng, cua) tại Duy Xuyên, Phú Ninh cũng phát triển mạnh, mang lại hiệu quả cao gấp 2-3 lần so với ao nuôi truyền thống. Các chính sách nông nghiệp Quảng Nam đã khuyến khích các mô hình dựa vào cộng đồng và hỗ trợ kỹ thuật, giúp người dân tiếp cận phương pháp nuôi trồng bền vững. Mặc dù còn hạn chế về quy mô và đầu tư nông nghiệp Quảng Nam cho vùng nước lợ/mặn, ngành này đã góp phần đa dạng hóa nông sản Quảng Nam, đáp ứng nhu cầu thực phẩm và nâng cao đáng kể thu nhập nông dân Quảng Nam, hướng tới nông nghiệp bền vững Quảng Nam.

VI. Bài học Tương lai Phát triển nông thôn Quảng Nam bền vững

Tổng kết 20 năm phát triển, kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, định hình hướng đi cho phát triển nông thôn Quảng Nam trong tương lai. Những thành công và hạn chế trong giai đoạn này là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách nông nghiệp Quảng Nam hiệu quả hơn, thúc đẩy nông nghiệp bền vững Quảng Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Việc nhận diện rõ các yếu tố thành công như chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam hợp lý, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Namđầu tư nông nghiệp Quảng Nam đúng mức là nền tảng cho sự phát triển tiếp theo. Đồng thời, khắc phục những tồn tại như sản xuất manh mún, thị trường thiếu ổn định, và tác động của biến đổi khí hậu Quảng Nam là nhiệm vụ trọng tâm. Tầm nhìn đến năm 2020 và xa hơn đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa các giải pháp về công nghệ, chính sách, nguồn lực và tổ chức sản xuất để kinh tế nông nghiệp Quảng Nam thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho toàn tỉnh.

6.1. Những bài học cốt lõi từ kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 20 năm qua

Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp Quảng Nam 1997-2017 đã mang lại nhiều bài học quý giá. Thứ nhất, vai trò của các chính sách nông nghiệp Quảng Nam từ Trung ương và địa phương là cực kỳ quan trọng, tạo hành lang pháp lý và động lực cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Namđầu tư nông nghiệp Quảng Nam. Các nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp đã định hướng rõ ràng. Thứ hai, sự chủ động và nỗ lực của người nông dân trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật mới, thay đổi phương thức sản xuất truyền thống là yếu tố quyết định. Các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đã giúp nâng cao năng lực cho thu nhập nông dân Quảng Nam. Thứ ba, việc chú trọng vào ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam và phát triển nông nghiệp công nghệ cao Quảng Nam là chìa khóa để tăng năng suất và giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam. Thứ tư, phát triển thị trường nông sản Quảng Nam và hình thành chuỗi giá trị là cần thiết để đảm bảo đầu ra ổn định và nâng cao giá trị cho nông sản Quảng Nam. Cuối cùng, nhận thức về nông nghiệp bền vững Quảng Nam và ứng phó với biến đổi khí hậu Quảng Nam cần được ưu tiên trong mọi hoạt động quy hoạch và sản xuất để giảm thiểu rủi ro.

6.2. Đề xuất Nông nghiệp bền vững Quảng Nam và tầm nhìn 2020

Để phát triển nông thôn Quảng Namkinh tế nông nghiệp Quảng Nam trong tương lai, cần tập trung vào các giải pháp đồng bộ và chiến lược. Trước hết, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam theo hướng CNH, HĐH, giảm sản xuất manh mún, hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn cho cây trồng chủ lực Quảng Namvật nuôi Quảng Nam có giá trị kinh tế cao. Tăng cường đầu tư nông nghiệp Quảng Nam vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là thủy lợi, giao thông nông thôn và các công trình chống biến đổi khí hậu. Khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp Quảng Nam tiên tiến, đưa nông nghiệp công nghệ cao Quảng Nam vào sản xuất, chế biến và bảo quản để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Quảng Nam. Phát triển đa dạng hóa thị trường nông sản Quảng Nam, xây dựng thương hiệu cho nông sản Quảng Nam, và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản Quảng Nam. Cải thiện hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp Quảng Nam, tăng cường liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học. Đồng thời, cần có chính sách nông nghiệp Quảng Nam linh hoạt, hỗ trợ thu nhập nông dân Quảng Nam, và đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp bền vững Quảng Nam để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu Quảng Nam, đảm bảo an ninh lương thực Quảng Nam dài hạn. Tầm nhìn đến năm 2020 và những năm tiếp theo là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và thân thiện với môi trường.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CÁC HUYỆN ĐỒNG BẰNG TỈNH QUẢNG NAM (1997-2017) 1. Tổng quan về các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Quảng Nam gắn liền với lịch sử dân tộc, cho đến ngày nay vẫn còn lưu giữ những dấu ấn sâu đậm. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng Nam nguyên “xưa là đất Việt Thường thị; đời Trần thuộc về Tượng quận; đời Hán thuộc quận Nhật Nam” [42, tr. Năm 192, trước tình hình phong kiến phương Bắc suy yếu, đất nước Trung Hoa bị loạn lạc, một thủ lĩnh địa phương Khu Liên đã lãnh đạo nhân dân quận Tượng Lâm nổi dậy đánh đuổi xâm lược, lập ra nước Lâm Ấp.

Năm 1306, vua Champa là Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý để làm sính lễ xin cưới công chúa Huyền Trân, em gái vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông đổi Ô, Lý thành Thuận Châu (gồm Thừa Thiên và vùng đất từ đèo Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn). Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam Thừa tuyên gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn, tức phần đất phía nam sông Thu Bồn đến Bình Định ngày nay. Danh xưng Quảng Nam bắt đầu từ đó với nghĩa rộng là vùng “đất đai mở rộng về phương nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa” [51, tr.

Thời vua Lê Tương Dực (1510-1516) Quảng Nam Thừa tuyên được đổi thành trấn Quảng Nam. Bản triều, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế năm Nhâm Dần thứ 45, Lê Hoằng Định năm thứ 3 (1602) đặt dinh Quảng Nam, đặt trấn thủ, cai bạ và ký lục ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhân vẫn lệ thuộc vào dinh này, 3 năm sau lại đem huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong thuộc Thuận Hóa thăng làm phủ, lãnh 5 huyện (Tân Phúc, Yên Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu) đổi lệ vào dinh Quảng Nam. Năm Gia Long thứ 5 (1805) gọi là trực lệ Quảng Nam dinh. Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), đổi gọi là Trấn.

Năm thứ 13 (1832), chia hạt, gọi là tỉnh Quảng Nam [43, tr. Từ năm 1930 đến tháng 8 năm 1945, Quảng Nam và Đà Nẵng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam. Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Quảng Nam và Đà Nẵng được tách ra thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Đến tháng 11 năm 1946, để chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Danh xưng Quảng Nam - Đà Nẵng bắt đầu có từ đó. Từ năm 1950 đến năm 1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng là hai đơn vị hành chính độc lập. Từ tháng 3 năm 1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng tái hợp thành một đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Cuối năm 1962, tỉnh Quảng 8 Nam - Đà Nẵng được tách thành tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà.

Từ năm 1964 đến tháng 10 năm 1967, theo chỉ đạo của Khu ủy V, thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Đà, gồm 3 quận là quận Nhất, quận Nhì và quận Ba. Đến tháng 11 năm 1967, trước cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành Đặc khu Quảng Đà. Sau khi thống nhất đất nước, tháng 10 năm 1975, tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, phê chuẩn việc tách Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng [41, tr.

Theo đó, các huyện đồng bằng trở thành đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Quảng Nam chính thức từ ngày 01 tháng 01 năm 1997. Khu vực đồng bằng tỉnh Quảng Nam khi mới chia tách tỉnh (1997) có 06 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 02 thị xã Tam Kỳ và Hội An, 03 huyện là Điện Bàn, Duy Xuyên và Thăng Bình và Núi Thành. Đến ngày 05 tháng 01 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2005/NĐ-CP, tách 10 xã phía tây của thị xã Tam Kỳ để thành lập huyện Phú Ninh. Ngày nay, các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam có 07 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 02 thành phố Tam Kỳ (tỉnh lỵ) và Hội An; 01 thị xã Điện Bàn và 04 huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Phú Ninh và Núi Thành.

Trong đó, có 110 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc (gồm, có 25 phường, 04 thị trấn và 81 xã) [14, tr. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và huyện trung du Đại Lộc; phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp các huyện miền núi Nam Giang, Nông Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước và huyện trung du Quế Sơn; phía đông giáp Biển Đông. Các huyện đồng bằng Quảng Nam có bề dày về lịch sử hình thành và quá trình xây dựng, phát triển. Nằm dọc theo vùng ven biển nên các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam có những nét tương đồng về khu vực địa lý, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, truyền thống văn hóa và hoạt động sản xuất.

Song, mỗi địa phương cũng có những nét đặc trưng riêng, như xuất phát điểm về đời sống kinh tế - xã hội; những ưu thế trong phát triển các ngành kinh tế; chủ trương, chính sách, sự chỉ đạo, điều hành của từng địa phương. Có thể khái quát về các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam như sau: *Thành phố Hội An Nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, Hội An có bề dày lịch sử hình thành vùng đất, di sản văn hóa, truyền thống yêu nước, phẩm chất anh hùng trong đấu tranh cách mạng và năng động sáng tạo trong lao động xây dựng quê hương. Hội An từng là thương cảng “vang bóng một thời” và trở thành trung tâm thương mại quốc tế phát triển thịnh đạt bậc nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á vào các thế kỷ XV-XIX. Hội An là một trong những địa phương có tổ chức Đảng Cộng sản ra đời sớm, là nơi Tỉnh ủy Quảng Nam thành lập và đóng cơ quan hoạt động, là một trong các tỉnh lỵ giành được chính quyền sớm nhất của cả nước trong Cách mạng tháng Tám.

Sau ngày quê hương 9 được giải phóng, đất nước thống nhất, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hội An đứng trước rất nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, bài học về phát huy sức mạnh nội sinh, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết đã giúp Đảng bộ và nhân dân Hội An dần dần tìm ra lối đi và xác định hướng đi đúng đắn. Những nỗ lực không mệt mỏi trong quá trình tự thân vận động và mở rộng giao lưu, hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ và giúp đỡ từ nhiều phía đã tạo nguồn lực mạnh mẽ để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hội An phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện [2, tr. *Thị xã Điện Bàn Vùng đất Điện Bàn có bề dày lịch sử về quá trình hình thành và phát triển, con người và truyền thống đấu tranh yêu nước.

Điện Bàn vốn là một huyện thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa. Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi trấn Quảng Nam thành dinh Quảng Nam và năm 1604 cho tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, thăng lên làm phủ Điện Bàn và nhập về dinh Quảng Nam. Phủ Điện Bàn có 5 huyện, 199 xã, 22 thôn, 9 giáp, 241 phường, 86 châu [30, tr. Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam, gồm hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn.

Phủ Điện Bàn gồm có hai huyện là Diên Phước và Hòa Vang [43, tr. Năm 1836, phủ Điện Bàn có thêm huyện Duy Xuyên. Năm 1899 có thêm huyện Đại Lộc. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dưới chế độ mới, đơn vị hành chính cấp phủ trước đây được thống nhất lại thành cấp huyện [17, tr.

Sau năm 1975, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 23 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 79-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới một số xã và thị trấn thuộc các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Điện Bàn, Giằng, Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn và Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, theo đó, chia xã Điện Minh thành thị trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam vừa được tái lập. Ngày nay, thị xã Điện Bàn có 20 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, gồm 07 phường và 13 xã [16, tr.

Điện Bàn có diện tích tương đối lớn, nằm ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Vu Gia và sông Thu Bồn, hàng năm được bồi đắp một lượng lớn phù sa màu mở, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. *Huyện Duy Xuyên Duy Xuyên là mảnh đất có lịch sử lâu đời. Nguyên là đất Chiêm Động của Chiêm Thành, đời Trần lấy cho vào lệ châu Thăng, đời Lê đổi làm huyện Hy Giang, lệ vào Phủ Thăng Hoa; đầu bản triều đổi tên hiện nay [42, tr. Năm Minh Mệnh thứ 8, trích 1 tổng Tân An của huyện Hà Đông cho thuộc vào huyện này [43, tr.

Trước Cách mạng tháng Tám gọi là phủ Duy Xuyên. Phủ lập năm 1920, có 10 tổng, 155 làng xã [17, tr. Sau Cách mạng tháng Tám - 1945, nhà nước đã thống nhất gọi là huyện trực thuộc tỉnh, tháng 2 năm 1946 do sắp xếp lại các đơn vị hành chính cho hợp lý nên nhà nước đã cắt một số xã thuộc tổng An Lễ, Phú Mỹ về huyện Đại Lộc (nay là Đại Minh, Đại Phong, Đại Chánh). Một số xã phía đông nam tổng Tân An về huyện Thăng Bình và sau đó cũng cắt Kim Bồng thuộc tổng Mỹ Khê ở đông bắc nhập vào thị xã Hội An.

Sau 10 nhiều lần nhập các xã, điều chỉnh địa giới hành chánh, đến nay huyện Duy Xuyên có 13 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc và 01 thị trấn [16, tr. Duy Xuyên nổi tiếng với di sản thế giới - Thánh địa Mỹ Sơn của người Chăm. Ngoài ra, Duy Xuyên còn có kinh thành Trà Kiệu, có thủy điện Duy Sơn, đập Vĩnh Trinh. Nhân dân Duy Xuyên có truyền thống đấu tranh từ lâu đời gắn liền với quá trình khai hoang phục hóa phát triển sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ