Chương 1: TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CÁC HUYỆN ĐỒNG BẰNG TỈNH QUẢNG NAM (1997-2017) 1. Tổng quan về các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Quảng Nam gắn liền với lịch sử dân tộc, cho đến ngày nay vẫn còn lưu giữ những dấu ấn sâu đậm. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng Nam nguyên “xưa là đất Việt Thường thị; đời Trần thuộc về Tượng quận; đời Hán thuộc quận Nhật Nam” [42, tr. Năm 192, trước tình hình phong kiến phương Bắc suy yếu, đất nước Trung Hoa bị loạn lạc, một thủ lĩnh địa phương Khu Liên đã lãnh đạo nhân dân quận Tượng Lâm nổi dậy đánh đuổi xâm lược, lập ra nước Lâm Ấp.
Năm 1306, vua Champa là Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý để làm sính lễ xin cưới công chúa Huyền Trân, em gái vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông đổi Ô, Lý thành Thuận Châu (gồm Thừa Thiên và vùng đất từ đèo Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn). Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam Thừa tuyên gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn, tức phần đất phía nam sông Thu Bồn đến Bình Định ngày nay. Danh xưng Quảng Nam bắt đầu từ đó với nghĩa rộng là vùng “đất đai mở rộng về phương nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa” [51, tr.
Thời vua Lê Tương Dực (1510-1516) Quảng Nam Thừa tuyên được đổi thành trấn Quảng Nam. Bản triều, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế năm Nhâm Dần thứ 45, Lê Hoằng Định năm thứ 3 (1602) đặt dinh Quảng Nam, đặt trấn thủ, cai bạ và ký lục ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhân vẫn lệ thuộc vào dinh này, 3 năm sau lại đem huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong thuộc Thuận Hóa thăng làm phủ, lãnh 5 huyện (Tân Phúc, Yên Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu) đổi lệ vào dinh Quảng Nam. Năm Gia Long thứ 5 (1805) gọi là trực lệ Quảng Nam dinh. Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), đổi gọi là Trấn.
Năm thứ 13 (1832), chia hạt, gọi là tỉnh Quảng Nam [43, tr. Từ năm 1930 đến tháng 8 năm 1945, Quảng Nam và Đà Nẵng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam. Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Quảng Nam và Đà Nẵng được tách ra thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Đến tháng 11 năm 1946, để chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Danh xưng Quảng Nam - Đà Nẵng bắt đầu có từ đó. Từ năm 1950 đến năm 1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng là hai đơn vị hành chính độc lập. Từ tháng 3 năm 1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng tái hợp thành một đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Cuối năm 1962, tỉnh Quảng 8 Nam - Đà Nẵng được tách thành tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà.
Từ năm 1964 đến tháng 10 năm 1967, theo chỉ đạo của Khu ủy V, thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Đà, gồm 3 quận là quận Nhất, quận Nhì và quận Ba. Đến tháng 11 năm 1967, trước cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành Đặc khu Quảng Đà. Sau khi thống nhất đất nước, tháng 10 năm 1975, tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, phê chuẩn việc tách Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng [41, tr.
Theo đó, các huyện đồng bằng trở thành đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Quảng Nam chính thức từ ngày 01 tháng 01 năm 1997. Khu vực đồng bằng tỉnh Quảng Nam khi mới chia tách tỉnh (1997) có 06 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 02 thị xã Tam Kỳ và Hội An, 03 huyện là Điện Bàn, Duy Xuyên và Thăng Bình và Núi Thành. Đến ngày 05 tháng 01 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2005/NĐ-CP, tách 10 xã phía tây của thị xã Tam Kỳ để thành lập huyện Phú Ninh. Ngày nay, các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam có 07 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 02 thành phố Tam Kỳ (tỉnh lỵ) và Hội An; 01 thị xã Điện Bàn và 04 huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Phú Ninh và Núi Thành.
Trong đó, có 110 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc (gồm, có 25 phường, 04 thị trấn và 81 xã) [14, tr. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và huyện trung du Đại Lộc; phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp các huyện miền núi Nam Giang, Nông Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước và huyện trung du Quế Sơn; phía đông giáp Biển Đông. Các huyện đồng bằng Quảng Nam có bề dày về lịch sử hình thành và quá trình xây dựng, phát triển. Nằm dọc theo vùng ven biển nên các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam có những nét tương đồng về khu vực địa lý, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, truyền thống văn hóa và hoạt động sản xuất.
Song, mỗi địa phương cũng có những nét đặc trưng riêng, như xuất phát điểm về đời sống kinh tế - xã hội; những ưu thế trong phát triển các ngành kinh tế; chủ trương, chính sách, sự chỉ đạo, điều hành của từng địa phương. Có thể khái quát về các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Nam như sau: *Thành phố Hội An Nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, Hội An có bề dày lịch sử hình thành vùng đất, di sản văn hóa, truyền thống yêu nước, phẩm chất anh hùng trong đấu tranh cách mạng và năng động sáng tạo trong lao động xây dựng quê hương. Hội An từng là thương cảng “vang bóng một thời” và trở thành trung tâm thương mại quốc tế phát triển thịnh đạt bậc nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á vào các thế kỷ XV-XIX. Hội An là một trong những địa phương có tổ chức Đảng Cộng sản ra đời sớm, là nơi Tỉnh ủy Quảng Nam thành lập và đóng cơ quan hoạt động, là một trong các tỉnh lỵ giành được chính quyền sớm nhất của cả nước trong Cách mạng tháng Tám.
Sau ngày quê hương 9 được giải phóng, đất nước thống nhất, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hội An đứng trước rất nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, bài học về phát huy sức mạnh nội sinh, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết đã giúp Đảng bộ và nhân dân Hội An dần dần tìm ra lối đi và xác định hướng đi đúng đắn. Những nỗ lực không mệt mỏi trong quá trình tự thân vận động và mở rộng giao lưu, hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ và giúp đỡ từ nhiều phía đã tạo nguồn lực mạnh mẽ để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hội An phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện [2, tr. *Thị xã Điện Bàn Vùng đất Điện Bàn có bề dày lịch sử về quá trình hình thành và phát triển, con người và truyền thống đấu tranh yêu nước.
Điện Bàn vốn là một huyện thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa. Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi trấn Quảng Nam thành dinh Quảng Nam và năm 1604 cho tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, thăng lên làm phủ Điện Bàn và nhập về dinh Quảng Nam. Phủ Điện Bàn có 5 huyện, 199 xã, 22 thôn, 9 giáp, 241 phường, 86 châu [30, tr. Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam, gồm hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn.
Phủ Điện Bàn gồm có hai huyện là Diên Phước và Hòa Vang [43, tr. Năm 1836, phủ Điện Bàn có thêm huyện Duy Xuyên. Năm 1899 có thêm huyện Đại Lộc. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dưới chế độ mới, đơn vị hành chính cấp phủ trước đây được thống nhất lại thành cấp huyện [17, tr.
Sau năm 1975, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 23 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 79-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới một số xã và thị trấn thuộc các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Điện Bàn, Giằng, Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn và Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, theo đó, chia xã Điện Minh thành thị trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam vừa được tái lập. Ngày nay, thị xã Điện Bàn có 20 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, gồm 07 phường và 13 xã [16, tr.
Điện Bàn có diện tích tương đối lớn, nằm ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Vu Gia và sông Thu Bồn, hàng năm được bồi đắp một lượng lớn phù sa màu mở, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. *Huyện Duy Xuyên Duy Xuyên là mảnh đất có lịch sử lâu đời. Nguyên là đất Chiêm Động của Chiêm Thành, đời Trần lấy cho vào lệ châu Thăng, đời Lê đổi làm huyện Hy Giang, lệ vào Phủ Thăng Hoa; đầu bản triều đổi tên hiện nay [42, tr. Năm Minh Mệnh thứ 8, trích 1 tổng Tân An của huyện Hà Đông cho thuộc vào huyện này [43, tr.
Trước Cách mạng tháng Tám gọi là phủ Duy Xuyên. Phủ lập năm 1920, có 10 tổng, 155 làng xã [17, tr. Sau Cách mạng tháng Tám - 1945, nhà nước đã thống nhất gọi là huyện trực thuộc tỉnh, tháng 2 năm 1946 do sắp xếp lại các đơn vị hành chính cho hợp lý nên nhà nước đã cắt một số xã thuộc tổng An Lễ, Phú Mỹ về huyện Đại Lộc (nay là Đại Minh, Đại Phong, Đại Chánh). Một số xã phía đông nam tổng Tân An về huyện Thăng Bình và sau đó cũng cắt Kim Bồng thuộc tổng Mỹ Khê ở đông bắc nhập vào thị xã Hội An.
Sau 10 nhiều lần nhập các xã, điều chỉnh địa giới hành chánh, đến nay huyện Duy Xuyên có 13 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc và 01 thị trấn [16, tr. Duy Xuyên nổi tiếng với di sản thế giới - Thánh địa Mỹ Sơn của người Chăm. Ngoài ra, Duy Xuyên còn có kinh thành Trà Kiệu, có thủy điện Duy Sơn, đập Vĩnh Trinh. Nhân dân Duy Xuyên có truyền thống đấu tranh từ lâu đời gắn liền với quá trình khai hoang phục hóa phát triển sản xuất.