CHƯƠNG 1. BOI CANH CUA KINH TE DON DIEN TAI DONG AN HA LAN 1. Bối cảnh khu vực và quốc tế thế kỷ XIX-XX 1. Bối cảnh chính trị- xã hội Trong diễn trình lịch sử, các cuộc phát kiến địa lý trong những thế kỷ XV- XVI đã đóng một vai trò quan trọng như là bước ngoặt của tương tác Đông- Tây.
Lan đầu tiên, các nhà nước phương Tây có thé duy trì những mối liên hệ thường xuyên với thế giới phương Đông, và cả một thé giới rộng lớn ở Tây Bán cầu. Tham vọng trong việc kiểm soát các nguồn thương phẩm giá trị cao của phương Đông như gốm sứ, to lụa, hương liệu, tra,. các quốc gia châu Âu như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh liên tục tổ chức các chuyến hải trình dé khang định vị thé va quyền lực của mình. Một số chuyến hải trình kết thúc trong hòa bình và hữu nghị, khi những người tiên phong quay trở lại châu Âu với các đội tàu chứa đầy gia vị, tơ lụa hay các sản vật hiếm thay.
Một số khác, ké từ thé ky XVI trở di, trở thành những đối thủ được vũ trang nhằm khống chế hoạt động thương mại Đông-Tây. Năm giữ ưu thé về mặt quân sự và công nghệ hàng hải, kinh nghiệm một thời gian dài của hải chiến, cùng tinh thần phục vụ Thiên chúa cũng mạnh mẽ như tham vọng làm giàu, người phương Tây chinh phục các tiền đồn hoặc cảng thị quan trọng như Goa, Bombay hay Batavia, vũ trang chúng bằng các pháo đài và tàu chiến. Những dé chế thương mại nôi lên như EIC, VOC hay OIC trong tư cách một nhà nước đội lốt nhà buôn, chi phối hoạt động thương mại không chỉ trong Nội Á mà còn cả xuyên châu lục. Hiển nhiên, những thế lực bản xứ không chấp nhận việc bị tước đoạt di nguồn lợi thương mại quan trọng như vậy, nhất là khi cả châu lục đang diễn ra một thời kỳ thương mại sôi động, kéo dài trong khoảng những năm 1450-1680.
Ban đầu, các nỗ lực ngăn chặn sự xâm nhập của người phương Tây vào Ấn Độ Dương nói riêng, châu Á nói chung hầu như không thành công. Một liên minh các Hồi quốc do Mamluk dẫn đầu nhằm chống lại người Bồ Đào Nha thất bại vào năm 1509, Malacca sụp đồ vào năm 1511 và những nỗ lực sau cùng của Sultan Malacca kết 19 thúc vào năm 1526. [d’Alds-Moner; 2012] Tại một số khu vực khác, tình hình dần khả quan hơn. Người Ottoman dần khôi phục lại hệ thống thương mại Hồi giáo từ sau năm 1540 bằng các liên minh quân sự với Mughal, Gujarat và Aceh.
[Casale; 2010] Sớm hơn trước đó, hải quân của nhà Minh thành công trong việc đánh bại một hạm đội Bồ Đào Nha bên ngoài đảo Lạn Đầu (Hongkong, 1523), buộc người Bồ Đào Nha phải chấp thuận giới hạn sự hiện diện tại Macao. Chính sách giới hạn sự hiện diện và thương mại châu Âu tiếp tục được duy trì bởi nhà Thanh, khi các cơ quan ngoại giao và thương diém bị dồn vào khu vực Quảng Châu. Một hiện tượng tương tự diễn ra tại Nhật Bản, năm 1638, Shogun ra lệnh dồn mọi hoạt động thương mại của người châu Âu (giới hạn chỉ cho phép người Hà Lan buôn bán) tới khu vực Deshima, đồng thời thi hành chính sách “tỏa quốc” kéo dai hai thế kỷ. [Nguyễn Van Kim; 2000] Người Hà Lan cũng bị đánh đuổi khỏi thương điểm tại Đài Loan, khi các thế lực phản Thanh phục Minh do Trịnh Thành Công dẫn đầu chiếm đóng đảo này vào năm 1662.
Ưu thế của người phương Tây chỉ trở nên rõ rệt sau năm 1750, đặc biệt là sự thắng thế của người Anh tại Ấn Độ cũng như sự suy yếu và lụi tàn của các chính thể phương Đông hùng mạnh một thời. Nguyên nhân cho sự thắng thế của chủ nghĩa tư bản phương Tây là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp giữa thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX. Khi mà thương mại hương liệu sụt giảm, nhu cầu tìm kiếm thị trường và nơi cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp đang lên tai châu Âu đã thúc day các dé quốc phương Tây tăng cường xâm chiếm các thuộc địa tại châu Á và châu Phi. Sự lụi tàn của các công ty thương mại là xung lực cho những can dự trực tiếp hơn vào phương Đông của các chính phủ phương Tây.
Từ bỏ việc chỉ đơn giản chiếm lĩnh các khu vực cảng biển hay thương điểm, những can thiệp trực tiếp dần diễn ra thông qua ngoại giao pháo hạm, các hiệp ước bất bình đăng, quyền bảo hộ và xâm chiếm thuộc địa. Đây thời điểm cho sự hình thành các hệ thống thuộc địa rộng lớn của Anh ở Ấn Độ, Ai Cập và Đông Phi; Pháp tại Đông Dương và Bắc Phi, Hà Lan tại khu vực quần đảo Đông Ấn; Nga tai Siberia,. Đồn điền với các loại cây thương phẩm khác nhau là một trong những hoạt động kinh tế chính của các thuộc địa trên thế giới, dù thuộc dé chế Anh, Pháp hay 20 Hà Lan. Trong trường hợp Đông Án Hà Lan, việc tăng cường đầu tư và khai thác thuộc địa Đông Ấn đặc biệt quan trọng sau năm 1830, nhằm bù đắp lại các thiệt hại to lớn trong cuộc chiến tranh Napoleon và việc Bi tách khỏi Hà Lan dé trở thành một vương quốc độc lập riêng, cũng như những thua lỗ mà VOC để lại.
Từ ly sở tại Batavia, chính quyền Đông An Hà Lan khuếch trương ảnh hưởng và bá quyền của mình lên toàn bộ đảo Java, đầu tư vào hệ thong mang lưới điện tin dé có thé kiểm soát chặt chẽ quyền cai trị và liên hệ với chính quốc. Đường sắt cũng dan được đưa vào khai thác nhằm đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa đến các cảng ở phía Bắc Java. Dần dần, hòn đảo này được bao phủ và kết nối bởi một mạng lưới đường sắt, giúp tăng cường thúc đây khả năng vận tải và phát triển kinh tế. Đây là một trong những xung lực thúc day việc phát triển của hệ thống kinh tế đồn điền Hà Lan tại Đông An.
[Knaap; 1989; 28-29] Chủ nghĩa tự do là một tư tưởng kinh tế - chính trị xuất phat từ kinh tế học. Được khai sinh ở Anh vào cuối thé ky XVIII với vai trò của Adam Smith va David Hume và được phát triển bởi John Stuart Mill, chủ nghĩa tự do trước tiên ủng hộ sự giao lưu trao đôi tự do của các cá nhân, như là điều kiện dé tạo nên một xã hội phát triển về vật chất, trên cơ sở là sự tự do tuyệt đối của cá nhân và sự can thiệp tối thiểu của nhà nước đến hoạt động của các cá nhân trong xã hội. Khi trở thành nền tảng chính sách của các chính quyền tư sản trong thế kỷ XIX, chủ nghĩa tự do đồng nghĩa với việc ủng hộ sự phát triển không giới hạn của tư bản tư nhân, trong một nền kinh tế tự do cạnh tranh không có rào can về thuế quan và lao động (hay còn gọi là laissez-faire). Mặt khác, chính sách tự do ủng hộ quyền lợi cho công dân — cá nhân về tư hữu tài sản, quyền tự do tham gia vào chính trị và kinh tế và phúc lợi về vật chất như là biện pháp cho phép cá nhân phát triển đến tối đa tiềm năng của mình.
Tuy nhiên, tầm mức áp dụng các tư tưởng tự do này có sự khác biệt ở từng nước tư bản và đặc biệt rất giới hạn và phức tạp khi đặt trong chế độ thực dân ở các thuộc địa. Những biến động chính trị mạnh mẽ tại châu Âu mới thực sự là đòn bẩy dé xoay chuyén thái độ của Hà Lan với thuộc địa. Cuộc chiến tranh Napoleon đã để lại những hậu quả nặng nề cho Hà Lan khi quốc gia này bị chiếm đóng. Sự phá sản của 21 VOC càng làm tình hình trầm trọng hơn bao giờ hết.
Cuộc cách mạng 1848 ở châu Âu đã làm sup đồ trật tự Viên va đưa đến su thành lập của các nền cộng hòa lập hiến trên khắp châu Âu. Ở các nước Tây Âu, các đảng phái chính trị tự do giành được thé thượng phong trên chính trường trước lực lượng bảo hoàng. Ban thân Hà Lan cũng bị mat đi khu vực giàu có tại Flander (Bi), vốn được xem là đồ bù đắp cho ton thất của Hà Lan trong Cách mạng Pháp. Cùng với sự thắng lợi của chính trị “tự do” là sự thang thế của chủ nghĩa kinh tế tự do trên toàn thế giới.
Lý thuyết kinh tế tự do giờ được coi như một “quy luật của tự nhiên” có tính phổ quát và không thé bác bỏ. [Lenin; 1975; 29] Cách mạng công nghiệp tạo ra những thay đôi bước ngoặt trong hệ thống kinh tế thế giới. Việc mở cửa Kênh đào Suez năm 1869 và sự hình thành hệ thống điện tín quốc tế năm 1871 làm bùng nỗ hoạt động thương mại giữa châu Âu các thuộc địa châu Á, trong đó có dé quốc Hà Lan và các thuộc địa của nó. Kinh tế don điền thế giới và khu vực Đông Nam A Những cuộc tham dự đầu tiên của người châu Âu vào hoạt động kinh tế đồn điền có thé được xem bắt đầu vào thời điểm diễn ra Thập Tự chinh, khi người Công giáo tiến về phía Đông giải phóng Vùng đất Thánh và tiếp xúc với những điền trang thâm canh của Hồi giáo ở vùng Cận Đông.
Khi người Công giáo thiết lập các nhà nước ven biến của mình tại Cận Đông, họ không chỉ đơn giản khống chế các dải bờ biển Levant mà còn cả những khu vực sản xuất mía đường quan trọng của người Hồi giáo. [Mintz; 1985; 28] Mia là một cây trồng thương phẩm quan trọng trong hệ thống kinh tế Địa Trung Hải và Tây Á nhờ giá trị của nó với ngành sản xuất đường. Đường không đóng vai trò dinh dưỡng như ngũ cốc, cũng không cung cấp calo cho một chế độ ăn uống lành mạnh, nhưng nó lại đóng vai trò như một chất bổ sung, được ưa chuộng nhờ vị ngọt đem lại cho các món ăn và đồ uống. Việc trồng mía là một quá trình đòi hỏi sức nhiều lao động, mà ở giai đoạn tiền công nghiệp luôn cần sử dụng sức lao động của nông dân hoặc nô lệ, với trung bình khoảng 1 mẫu đất thi do 1 nhân lực chịu trách nhiệm.
Khối lượng của mía nhiều hơn với các loại cây trồng giống cỏ như lúa mì hay ngô, nên buộc phải cô đặc thành phẩm như đun sôi dé loại bỏ nước thừa, cô đặc lại thành đường kết tinh hoặc mật mía nhằm tiết kiệm chi phí vận 22 chuyền cũng như bảo quản. Sau khi trở thành các thành phẩm như đường hay mật, các sản pham từ mía có giá trị cao trên thị trường.