Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ giáo dục đại học 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ 1. Khái niệm Trong cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, các ngành dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Khu vực dịch vụ đã trở thành trọng tâm chiến lược đầu tư phát triển của hầu hết các quốc gia. Theo đó, dịch vụ và những vấn đề liên quan đã thu hút sự chú ý của không chỉ những nhà hoạch định chính sách, những học giả hay nhà kinh doanh, mà gần như tất cả mọi người. Cụm từ “dịch vụ” tuy xuất hiện rất nhiều và vô cùng quen thuộc trong cuộc sống thường ngày, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm chung thống nhất về dịch vụ trên phạm vi toàn cầu. Mỗi quốc gia với trình độ phát triển kinh tế khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau, mỗi nguồn nghiên cứu khác nhau lại có những cách hiểu và phân loại khác nhau.
Theo quan điểm của nhà kinh tế Allan Fisher và Colia Clark dịch vụ được coi là ngành kinh tế thứ ba, tức là các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp. Clark đưa ra khái niệm dịch vụ là “các dạng hoạt động kinh tế không được liệt kê vào ngành thứ nhất và ngành thứ hai (công nghiệp và nông nghiệp)”. Tuy nhiên khái niệm này không có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành nên có những hoạt động không thống nhất được phải xếp vào ngành nào, ví dụ hoạt động xây dựng từ trước người ta vẫn liệt vào ngành công nghiệp nhưng đến nay người ta lại chuyển chúng sang ngành dịch vụ. Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam lại căn cứ vào những đặc điểm nổi bật và những khác biệt giữa dịch vụ với hàng hoá để đưa ra khái niệm về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được” (Nguy n Thị Mơ, 2005).
Theo cách tiếp cận tương tự, Hồ Văn Vĩnh (2006) cho rằng: “Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể”. Hai cách hiểu trên về cơ bản là giống nhau, bởi cả hai đều đưa ra những đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 người. Quá trình cung cấp dịch vụ gắn liền với sự tiếp xúc giữa người sản xuất và người tiêu dùng dịch vụ.
Thứ hai, khác với hàng hoá là vật hữu hình, dịch vụ có tính vô hình, phi vật thể. Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO không đưa ra một khái niệm cụ thể mà liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành; trong khi Liên hợp quốc lại điều chỉnh lĩnh vực này thông qua Hệ thống phân loại theo ngành tiêu chuẩn quốc tế và phân loại các sản phẩm chủ yếu. Như vậy, mặc dù khái niệm về dịch vụ chưa được thống nhất một cách rộng rãi, nhưng với ý nghĩa kinh tế và thương mại, trong nghiên cứu này, người viết sử dụng các hiểu về dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới hình thái vật thể, được tiêu dùng đồng thời với quá trình cung cấp, nhằm thỏa mãn nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng và sức khỏe con người. Các thuộc tính của dịch vụ - Tính chất vô hình (Intangibility): Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, ngửi, nếm, hay sờ thấy được.
Mặc dù việc cung cấp dịch vụ thường hay gắn với cơ sở vật chất hoặc hàng hóa hữu hình như khách trả tiền cho sự phục vụ chứ không phải cho các yếu tố hữu hình. Ví dụ khi khách thanh toán dịch vụ là thanh toán cho sự phục vụ của khách sạn, còn phòng ở chỉ là cơ sở vật chất phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ ấy của khách sạn. Khách hàng không thể biết được chất lượng dịch vụ trước khi tiêu dùng nó. Để tìm đến những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn nhu của mình, người tiêu dùng chỉ có thể tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng dịch vụ cung ứng đó, như thương hiệu, danh tiếng người cung ứng, biểu tượng, giá cả hay sự mô tả về dịch vụ đó của các khách hàng khác đã tiêu dùng dịch vụ hoặc qua thông tin quảng cáo.
- Tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng (Inconsistency): Tính không đồng nhất có thể hiểu là tính d thay đổi trong chất lượng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và tình trạng của người tiêu dùng dịch vụ. Cùng một người cung ứng nhưng tâm lý, sức khỏe, kiến thức xã hội vào thời điểm khác nhau thì chất lượng cũng sẽ khác nhau. - Tính không thể tách rời (Insaparability): Tính không thể tách rời của dịch vụ có thể hiểu là sự không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ.
Đây là điểm khác biệt căn bản giữa dịch vụ và hàng hóa. Việc sản xuất dịch vụ chỉ được thực hiện khi khách hàng có mặt tại nơi cung cấp dịch vụ, tiếp nhận, tiêu dùng sản phẩm. - Tính không lưu trữ được (Inventory): Phần lớn dịch vụ không thể lưu kho cũng không thể cất trữ. Nếu cầu vượt quá cung thì không thể bù đắp phần thiếu hụt như trong thương mại hàng hóa là lấy hàng dự trữ trong kho ra tiêu thụ.
Ngược lại khi cầu giảm thì không thể cất trữ dịch vụ phòng cho lúc cao điểm. Chỉ có kỹ năng cung ứng dịch vụ là còn lưu lại và không mất đi sau khi đã cung ứng. Sau khi thực hiện một ca phẫu thuật thành công, bác sĩ không mất đi khả năng phẫu thuật. Sau một bài giảng thành công, giảng viên không mất đi khả năng giảng bài cũng như kỹ năng sư phạm của mình… Sự thành công của bác sỹ trong phẫu thuật, sự thành công trong bài giảng của giảng viên tồn tại và hướng tới sự hoàn thiện hơn trong việc lặp đi lặp lại hoạt động của mình.
Phân loại Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào các căn cứ để phân loại dịch vụ hay hệ thống thống kê dịch vụ của từng quốc gia và từng tổ chức kinh tế quốc tế khác nhau. Căn cứ vào tính chất của dịch vụ khi cung cấp Có thể phân dịch vụ thành 2 loại: - Dịch vụ gắn với hoạt động sản xuất, phục vụ sản xuất, dịch vụ mang tính trung gian như dịch vụ vận tải hàng hóa, dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ tài chính, dịch vụ phân phối, dịch vụ kinh doanh. - Dịch vụ gắn với tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng như dịch vụ du lịch, dịch vụ y tế, dịch vụ sức khỏe, dịch vụ giải trí, dịch vụ thể dục, thể thao… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Căn cứ vào mục đích cung cấp dịch vụ, có thể phân loại dịch vụ thành: - Dịch vụ mang tính thương mại: là dịch vụ được cung cấp trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà cung cấp khác nhau, nhằm vào mục đích thương mại và kinh doanh.
- Dịch vụ công hay dịch vụ của chính phủ: là những dịch vụ được cung cấp trên cơ sở độc quyền, có tính chất phục vụ của chính phủ, không dựa trên cơ sở cạnh tranh và không nhằm vào mục đích thương mại và kinh doanh. Căn cứ theo phương thức thống kê: Có thể thấy hiện nay có 3 loại. Đó là: - Theo Ủy ban Thống kê của Liên hợp quốc thì dịch vụ được phân loại theo 2 cách: Hệ thống phân loại theo ngành tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Industrial Classification – ISIC) và Phân loại các sản phẩm chủ yếu (Central Products Classification – CPC). Hai cách phân loại này được các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới thừa nhận và sử dụng.
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng có cách phân loại giao dịch dịch vụ quốc tế khác biệt. Cách phân loại giao dịch dịch vụ quốc tế của IMF được coi là cơ sở để thống kê thương mại dịch vụ quốc tế. Mức độ chi tiết về phân loại dịch vụ giữa các nước cũng khác nhau chủ yếu dựa vào thu nhập và chi tiết hóa số liệu. - Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) phân loại dịch vụ theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).
Cách phân loại này khá đơn giản, d theo dõi và phục vụ tốt cho đàm phán thương mại dịch vụ quốc tế. Hệ thống phân loại theo GATS được đưa ra trong Vòng đàm phán U-ru-guay nhằm hỗ trợ tốt nhất cho đàm phán tự do hóa lĩnh vực thương mại dịch vụ. Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12 ngành và 155 phân ngành. Dịch vụ kinh doanh Dịch vụ thông tin Dịch vụ xây dựng Dịch vụ phân phối Dịch vụ giáo dục Dịch vụ môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dịch vụ tài chính Dịch vụ y tế Dịch vụ du lịch Dịch vụ văn hóa, giải trí và thể thao Dịch vụ vận tải Các dịch vụ khác Hiện nay, hệ thống phân loại dịch vụ của Việt Nam dựa trên Nghị định số 75/CP của Chính phủ ngày 27/10/1993 gồm có từ phân ngành thứ 7 đến phân ngành thứ 20 trong tổng số 20 phân ngành cấp 1.
Tuy nhiên, sự phân loại này đã không tính đến các ngành tiện ích và ngành xây dựng vốn được xếp vào nhóm dịch vụ thương mại theo tiêu chí GATS. Thương mại dịch vụ theo quy định của WTO Dịch vụ đã trở thành đối tượng của thương mại với tỷ trọng ngày càng tăng. Khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa, hoạt động trao đổi, mua bán dịch vụ ngày càng trở nên sôi động, phổ biến. Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc rất nhiều doanh nghiệp dịch vụ nước ngoài sẽ tiếp cận thị trường trong nước và cạnh tranh mạnh mẽ với doanh nghiệp nội địa.
Đây là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cải tiến, đổi mới và hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng. Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS không đưa ra khái niệm thương mại dịch vụ mà chỉ đưa ra bốn phương thức cung cấp dịch vụ.