Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu gắn liền với các áp lực về suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu, phát triển bền vững trở thành yêu cầu tất yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Logistics là mắt xích kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng nhưng cũng là một trong những ngành tiêu thụ nhiều nhiên liệu và phát thải lớn nhất. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê được tác giả trích dẫn, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt mức 500 tỷ USD, xếp thứ 22 trên thế giới về quy mô thương mại. Tuy nhiên, việc vận hành chuỗi cung ứng truyền thống đang tạo ra gánh nặng lớn lên hệ sinh thái. Do đó, việc chuyển đổi sang mô hình "Chuỗi cung ứng Xanh" và "Logistics Xanh" là đòi hỏi cấp thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam.
Khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, trình bày tổng quan về chuỗi cung ứng xanh, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, từ đó làm rõ mô hình quản lý chuỗi cung ứng Xanh – Logistics Xanh tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; chỉ ra điểm khác biệt giữa chuỗi cung ứng xanh và chuỗi cung ứng truyền thống.
- Thứ hai, phân tích thực trạng quản lý dịch vụ Logistics Xanh tại Công ty Cổ phần Giao nhận Toàn cầu DHL (DHL Global Forwarding - DGF), đánh giá những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm thực tiễn.
- Thứ ba, đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ Logistics Xanh cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Logistics tại Việt Nam dựa trên kết quả phân tích mô hình SWOT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý dịch vụ Logistics Xanh và kinh nghiệm triển khai thực tế tại doanh nghiệp logistics đa quốc gia.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý của Tập đoàn Deutsche Post DHL / DHL Global Forwarding trên phạm vi toàn cầu và tại chi nhánh Việt Nam, từ đó liên hệ với bối cảnh các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Khóa luận thu thập và phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 3 năm 2021 (trong đó dữ liệu phát thải khí nhà kính của DGF được phân tích chi tiết giai đoạn 2014 – 2019).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và mô hình chuẩn mực trong quản trị chuỗi cung ứng:
- Khái niệm nền tảng: Chuỗi cung ứng theo định nghĩa của Chopra & Meindl (2001), Ganesham & Harrison (1995); mô hình chuỗi cung ứng 6 thành phần của John T. Mentzer (Đơn vị cung cấp nguyên vật liệu, Nhà sản xuất, Nhà bán buôn, Nhà bán lẻ, Nhà cung cấp dịch vụ, Khách hàng).
- Khung lý thuyết Chuỗi cung ứng Xanh (GSCM): Định nghĩa của Penfield (2007), Narasimhan & Carter (1998), Godfrey (1998) về việc sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, tái chế chất thải và giám sát tác động sinh thái; Mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng SCOR (Kế hoạch, Nguồn lực, Thực hiện, Cung cấp, Trả lại, Cho phép) mở rộng thành GreenSCOR; Khung hoạt động chuỗi cung ứng xanh của M. Ariffin (Thiết kế Xanh, Quản lý vật liệu Xanh, Sản xuất Xanh, Phân phối & Marketing Xanh theo M. Björklund, Logistics ngược); Mô hình quản lý chuỗi cung ứng xanh của Johnny (2009) và Srivastava (2007).
- Hệ thống Logistics Xanh: Định nghĩa theo Luật Thương mại Việt Nam 2005, báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2009), Carter & Rogers (2008), Ittmann Hans (2011), Lee & Klassen. Hệ thống Logistics Xanh 4 cấu phần của Rodrigue (2012) gồm: Kho bãi Xanh, Đóng gói bao bì Xanh, Giao thông vận tải Xanh, Thu thập & xử lý thông tin Xanh.
- Tiêu chuẩn và quy chuẩn đánh giá: Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 (ISO 14001, 14004, 14010, 14011, 14012, 14020-14024, 14040-14043, 14060), ISO 50001; Tiêu chuẩn đo lường khí nhà kính GHG Protocol (Phạm vi 1, 2, 3); Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn Việt Nam (QCVN 24:2009/BTNMT, TCVN 5945:2005, TCVN 6980-6987:2001 về nước thải; TCVN 5937:2005, TCVN 5939:2005, TCVN 5940:2005 về chất lượng không khí và khí thải; QCVN 03:2008/BTNMT, QCVN 15:2008/BTNMT về đất).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:
- Phương pháp thu thập và thống kê dữ liệu thứ cấp từ báo cáo thường niên của Deutsche Post DHL Group, tài liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh dữ liệu phát thải và chỉ số tài chính qua các năm.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp Việt Nam khi triển khai Logistics Xanh.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các công trình nghiên cứu học thuật đã xuất bản, báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo phát triển bền vững của Deutsche Post DHL Group giai đoạn 2014 – 2019, các cơ sở dữ liệu xếp hạng Logistics Performance Index (LPI) của World Bank, cùng các văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG XANH – LOGISTICS XANH
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về chuỗi cung ứng và logistics xanh. Tác giả chỉ ra 3 yếu tố cốt lõi của chuỗi cung ứng xanh: (1) Sử dụng các yếu tố thân thiện môi trường từ khâu mua nguyên liệu, sản xuất đến phân phối; (2) Tái chế, tái sử dụng phế phẩm và xử lý sản phẩm sau vòng đời (logistics ngược); (3) Thiết lập cơ chế giám sát tác động môi trường giữa các bên liên kết.
Khóa luận phân tích các nhóm yếu tố tác động đến chuỗi cung ứng xanh:
- Nhóm yếu tố bên trong: Năng lực công nghệ (đòi hỏi vốn đầu tư lớn để đổi mới dây chuyền, máy móc), Trình độ nguồn nhân lực (khả năng làm chủ và vận hành công nghệ sạch), Năng lực quản lý (tư duy chiến lược của lãnh đạo trong việc cân bằng giữa lợi nhuận ngắn hạn và chi phí bảo vệ môi trường).
- Nhóm yếu tố bên ngoài: Yếu tố chính trị (luật định, chính sách ưu đãi, quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc của chính phủ), Yếu tố xã hội (nhận thức tiêu dùng xanh của khách hàng và cộng đồng).
Tác giả nhấn mạnh Logistics Xanh là một bộ phận không thể tách rời của Chuỗi cung ứng Xanh, đóng vai trò kết nối sản xuất xanh với tiêu dùng xanh thông qua 4 trụ cột chức năng: kho bãi xanh, bao bì đóng gói xanh, vận tải xanh và xử lý thông tin xanh.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS XANH TẠI DHL GLOBAL FORWARDING
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng quản lý Logistics Xanh tại Tập đoàn Deutsche Post DHL và đơn vị thành viên DHL Global Forwarding (DGF). Về mặt tổ chức, Deutsche Post DHL Group vận hành 3 khối dịch vụ chính (Kinh doanh Quốc tế, Tài chính, Nhân sự), trong đó mảng Kinh doanh Quốc tế bao gồm 4 bộ phận: Post - Ecommerce - Parcel, Express, Global Forwarding - Freight, và Supply Chain.
| Chỉ tiêu tài chính |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
| Tổng doanh thu (triệu EUR) |
59.230 |
57.334 |
60.444 |
61.550 |
63.341 |
| Lợi nhuận hoạt động EBIT (triệu EUR) |
2.411 |
3.491 |
3.741 |
3.162 |
4.128 |
| Lợi nhuận sau thuế (triệu EUR) |
877 |
1.963 |
2.175 |
716 |
1.509 |
| Lợi nhuận ròng hợp nhất (triệu EUR) |
1.540 |
2.639 |
2.713 |
2.075 |
2.623 |
Tại Việt Nam, DHL Global Forwarding hoạt động dưới pháp nhân Công ty Cổ phần Giao nhận Toàn cầu DHL (thành lập ngày 06/11/2005, vốn điều lệ 150.000 đồng theo giấy phép kinh doanh), cung cấp đa dạng dịch vụ vận chuyển hàng không (DHL Air Priority, DHL Air Connect, DHL Air Economy, DHL Air Charter, DHL Air Thermonet, DHL Airfreight Plus, LifeConEx, DHL Air Combined) và vận tải đường biển.
Về quản lý dịch vụ Logistics Xanh, DGF áp dụng Bộ Quy chuẩn Hành vi (Code of Conduct - CoC) kết hợp với Chính sách Năng lượng và Môi trường. Quản lý khí thải được thực hiện theo tiêu chuẩn GHG Protocol chia thành 3 phạm vi:
| Khối lượng phát thải (triệu tấn CO2) |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
| Phạm vi 1 (Phát thải trực tiếp) |
6,0 |
6,1 |
6,2 |
6,3 |
6,3 |
6,4 |
| Phạm vi 2 (Năng lượng tiêu thụ) |
0,3 |
0,3 |
0,3 |
0,3 |
0,3 |
0,2 |
| Phạm vi 3 (Chuỗi giá trị/Đối tác) |
21,8 |
22,1 |
22,5 |
22,8 |
22,9 |
22,4 |
| Tổng lượng phát thải |
28,1 |
28,5 |
29,0 |
29,4 |
29,5 |
28,9 |
Năm 2019, tổng lượng phát thải từ vận tải của DGF giảm 2,1% so với năm 2018. Cơ cấu phát thải theo phương thức vận tải năm 2019 gồm: Vận tải hàng không chiếm 65%, Vận tải đường biển chiếm 21%, Vận tải đường bộ chiếm 12%, và các hình thức khác chiếm 2%.
Khóa luận cũng phân tích các hoạt động xanh hóa khác tại DGF:
- Kho bãi: Nghiên cứu cơ cấu tiêu thụ năng lượng kho bãi điển hình cho thấy hệ thống đốt và thắp sáng chiếm 69%, hệ thống điều hòa và thông gió chiếm 15%, máy tính và nước chiếm 4%, hoạt động khác chiếm 12%. DGF chuyển đổi sang sử dụng năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời), thay thế điều hòa bằng hệ thống thông gió tự nhiên và áp dụng nguyên lý quản lý kho "Just in Time" (JIT). Tuy nhiên, tại Việt Nam, do chưa có hệ thống kho bãi chuyên dụng độc lập, hàng hóa chuyển thẳng ra các cảng tạm thời dễ gây ùn tắc giao thông cục bộ.
- Đóng gói: DGF sử dụng khoảng 70 triệu túi nhựa mỗi năm. Doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi sang bao bì phân hủy sinh học, tối ưu quy cách đóng gói và thiết lập quy trình thu gom, tái chế bao bì nhựa.
- Hệ thống quản lý: Áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 và quản lý năng lượng ISO 50001, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Zero Emissions) vào năm 2050.
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM RÚT RA CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU LOGISTICS TẠI VIỆT NAM TRONG VIỆC QUẢN LÝ DỊCH VỤ LOGISTICS XANH
Chương 3 tổng kết các bài học kinh nghiệm từ mô hình của DHL Global Forwarding và đề xuất định hướng ứng dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu logistics Việt Nam:
- Bài học kinh nghiệm: (i) Thiết lập và áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường đối với nhà cung cấp dịch vụ và đối tác vận tải; (ii) Đẩy mạnh đào tạo nội bộ nhằm nâng cao nhận thức và năng lực vận hành xanh cho đội ngũ nhân sự; (iii) Đầu tư giải pháp công nghệ quản trị logistics xanh đồng bộ.
- Đánh giá thách thức: Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiếu hụt nguồn vốn đầu tư công nghệ, tỷ lệ ứng dụng phần mềm quản lý kho bãi còn hạn chế, hạ tầng giao thông vận tải chưa đồng bộ dẫn đến chi phí logistics còn cao.
- Giải pháp đối với doanh nghiệp: Tối ưu hóa mạng lưới vận tải, đẩy mạnh vận tải đa phương thức kết hợp đường biển và đường bộ; cải tạo hạ tầng kho bãi tiết kiệm năng lượng; thay thế vật liệu bao bì bằng chất liệu thân thiện môi trường; xây dựng hệ thống quản lý tích hợp tiêu chuẩn ISO 14001/ISO 50001 và ban hành Quy chuẩn hành vi nội bộ.
- Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành chính sách ưu đãi tài chính và tín dụng xanh cho các dự án logistics bền vững; đầu tư quy hoạch hạ tầng cảng biển, đường sắt và các trung tâm logistics tích hợp; siết chặt kiểm tra việc tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN, TCVN).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Dữ liệu thực chứng về quản lý phát thải: Làm rõ mô hình kiểm soát phát thải 3 phạm vi tại DGF, ghi nhận mức giảm phát thải vận tải từ 29,5 triệu tấn (2018) xuống 28,9 triệu tấn (2019), trong đó lượng phát thải Scope 2 giảm gần 30% nhờ chuyển đổi sang năng lượng tái tạo.
- Bóc tách cơ cấu tiêu thụ năng lượng và nguồn phát thải: Xác định vận tải hàng không là nguồn phát sinh khí thải lớn nhất tại DGF (chiếm 65% tổng phát thải vận tải năm 2019); trong quản lý kho bãi, hệ thống thắp sáng và sưởi ấm chiếm tỷ trọng tiêu thụ năng lượng cao nhất (69%).
- Hệ thống hóa giải pháp ứng dụng: Chuyển hóa kinh nghiệm của tập đoàn đa quốc gia thành hệ thống giải pháp 2 cấp độ: cấp độ doanh nghiệp (quản lý vận tải, kho bãi JIT, bao bì, đào tạo nhân sự) và cấp độ quản lý nhà nước (chính sách ưu đãi, hạ tầng giao thông, quy chuẩn môi trường).
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc kết nối giữa khung lý luận quản trị chuỗi cung ứng xanh quốc tế (GreenSCOR, Rodrigue) với dữ liệu thực tế tại doanh nghiệp logistics hàng đầu thế giới, từ đó cung cấp góc nhìn thực tiễn về lộ trình xanh hóa ngành logistics xuất nhập khẩu tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Dữ liệu nghiên cứu tại DGF chủ yếu dựa trên các báo cáo thứ cấp giai đoạn 2014 – 2019, chưa phản ánh đầy đủ những biến động sâu rộng của chuỗi cung ứng toàn cầu sau giai đoạn bùng phát đại dịch COVID-19 (từ năm 2020 trở đi).
- Phân tích thực trạng tập trung phần lớn vào một tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực tài chính lớn (DHL), do đó việc áp dụng vào nhóm doanh nghiệp logistics quy mô vừa và nhỏ (SMEs) tại Việt Nam cần có thêm các nghiên cứu thực nghiệm định lượng về chi phí - lợi ích và nguồn vốn đầu tư.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định lượng trực tiếp mức độ sẵn sàng áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001/ISO 50001 tại các doanh nghiệp logistics nội địa của Việt Nam, hoặc đánh giá hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi phương tiện vận tải sử dụng năng lượng sạch trong dịch vụ giao nhận chặng cuối.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Quản lý chuỗi cung ứng và Logistics có thể tham khảo cấu trúc hệ thống hóa lý luận về Green Supply Chain, Green Logistics và phương pháp phân tích số liệu phát thải theo GHG Protocol.
- Nhà quản trị doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics: Có thể tham khảo trực tiếp các bài học kinh nghiệm tại Chương 2 và Chương 3 về quy chuẩn hành vi (CoC), quy trình quản lý kho bãi theo JIT, tối ưu hóa bao bì sinh học và phương thức quản lý đối tác vận tải nhằm giảm phát thải gián tiếp (Scope 3).
- Cơ quan hoạch định chính sách: Tham khảo các nhóm kiến nghị về khung tiêu chuẩn kỹ thuật (TCVN/QCVN) và định hướng đầu tư hạ tầng phục vụ xanh hóa ngành logistics.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung lý thuyết nào để phân tích cấu trúc của hệ thống Logistics Xanh?
Khóa luận sử dụng mô hình hệ thống Logistics Xanh của Rodrigue (2012), bao gồm 4 cấu phần hoạt động chính: Kho bãi Xanh, Đóng gói bao bì Xanh, Giao thông vận tải Xanh, và Thu thập & xử lý thông tin Xanh.
2. Cơ cấu phát thải khí nhà kính trong hoạt động vận tải của DHL Global Forwarding năm 2019 được phân bổ như thế nào?
Theo số liệu thống kê năm 2019 tại DGF, tổng lượng phát thải vận tải là 28,9 triệu tấn CO2. Trong đó, vận tải hàng không chiếm tỷ trọng lớn nhất với 65%, vận tải đường biển chiếm 21%, vận tải đường bộ chiếm 12%, và các hình thức khác chiếm 2%.
3. Hoạt động quản lý phát thải của DHL Global Forwarding được đo lường theo tiêu chuẩn nào?
Doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn của GHG Protocol để phân loại khí thải thành 3 phạm vi: Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ hoạt động của doanh nghiệp), Phạm vi 2 (phát thải gián tiếp từ nguồn năng lượng mua ngoài như điện lực, chất đốt), và Phạm vi 3 (phát thải gián tiếp phát sinh từ toàn bộ chuỗi giá trị và đối tác cung cấp dịch vụ).
4. Khóa luận chỉ ra thực trạng và bất cập gì trong hoạt động kho bãi của DHL Global Forwarding tại thị trường Việt Nam?
Tại Việt Nam, DGF chưa xây dựng hệ thống kho bãi riêng chuyên dụng mà thực hiện chuyển hàng trực tiếp đến các cảng hàng không và cảng biển tạm thời. Do diện tích các cảng tạm thời còn hạn chế và thời gian làm thủ tục hải quan kéo dài, tình trạng này dẫn đến việc ùn ứ phương tiện và gia tăng phát thải khí thải cục bộ quanh khu vực giao nhận.
5. Mục tiêu bảo vệ môi trường dài hạn đến năm 2050 của DHL Global Forwarding là gì?
Doanh nghiệp đặt mục tiêu cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng lên mức 50% so với năm 2007 (điều chỉnh vào năm 2025), nâng cao Chỉ số hiệu quả khí thải CO2 (CEX) thêm 1 điểm mỗi năm, đạt 70% dịch vụ chặng đầu và chặng cuối không phát thải, và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lê Quang Minh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về Chuỗi cung ứng Xanh và Logistics Xanh, đồng thời phân tích sâu sắc bức tranh thực tế về quản lý phát thải tại tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới DHL Global Forwarding. Thông qua việc phân tích số liệu tài chính và chỉ số phát thải vận tải giai đoạn 2014 – 2019, công trình đã làm rõ tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp xanh hóa vận tải, kho bãi và đóng gói. Các bài học kinh nghiệm và hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp tài liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu logistics và cơ quan quản lý tại Việt Nam trong tiến trình phát triển bền vững.