Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chính sách nhà nưó’c Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động Các văn bản pháp quy hiện hành về ATLĐ là căn cứ pháp lý để người lao động và người sử dụng lao động tuân theo nhằm bảo vệ sức khoẻ con người, phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, góp phần phát triển sản xuất và tăng năng suất lao động [27]. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992), điều 56 quy định: “Nhà nước ban hành chính sách chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm đói với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiềm xã hội khác đối với người lao động” [29], Bộ luật lao động (23/6/1994), điều 96 (chương IX) quy định: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động.
Người lao động phải tuân thủ các quy định về ATLĐ, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp. Mọi tổ chức cá nhân có liên quan đến lao động sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường”. Điều 99 quy định: “Người lao động có quyền từ chổi làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra TNLĐ đe doạ nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khoẻ của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp. Người sử dụng lao động không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc đó hoặc trở lại nơi làm việc đó nếu nguy cơ chưa được khắc phục.
Điều 101 quy định: “Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại phải được cấp đầy đủ phương tiện bào vệ cá nhân. Người sử dụng lao động phải bảo 5 đảm các phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lượng và quy cách theo quy định của pháp luật.” Điều 102 quy định: “Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người lao động, người lao động phải được khám sức khoẻ khi tuyển dụng và được khám sức khoẻ định kỳ theo chế độ quy định. Chi phí khám sức khoẻ cho người lao động do người sử dụng lao động chịu.” Điều 105 quy định: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tốn thương cho bất kỳ bộ phận chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.
Người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật.” Điều 108 quy định: “Tất cả các vụ tai nạn lao động, các trường hợp bị bệnh nghề nghiệp đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.” [29] Nghị định 06/CP (20/1/1995), chương II quy định 1 số điều về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Điều 3 quy định: “Việc thực hiện tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động theo khoản 2 điều 96 của Bộ luật lao động được quy định như sau: Tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động là tiêu chuẩn, quy phạm bắt buộc thực hiện. Căn cứ tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động của Nhà nước, của ban ngành, người sử dụng lao động phải xây dựng quy trình bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho từng máy, thiết bi, vật tư và nội quy an toàn, vệ sinh nơi làm việc.” 6 Điều 6 quy định: “Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại phải được trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân đúng quy cách và chất lượng theo tiêu chuẩn danh mục do Bộ Lao động- Thương binh và xã hội quy định.” Điều 7 quy định: “Việc định kỳ khám sức khoẻ, huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo điều 102 của Bộ luật lao động được quy định như sau: Phải khám sức khoẻ cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề, ít nhất 1 lần trong 1 năm, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại thì ít nhất 6 tháng 1 lần.
Việc khám sức khoẻ phải do các đơn vị y tế Nhà nước thực hiện. Trước khi nhận việc, người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề phải được hướng dẫn, huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Sau đó căn cứ vào công việc của từng người đảm nhiệm mà huấn luyện, hướng dẫn các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh phù hợp và phải được kiểm tra thực hành chặt chẽ. Nghiêm cấm việc sử dụng người lao động chưa được huấn luyện và chưa được cấp thẻ an toàn làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Việc tổ chức huấn luyện, mở lớp huấn luyện phải theo sự hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.” Điều 12 quy định: “Tất cả các vụ tai nạn lao động, các trường hợp bị bệnh nghề nghiệp đều phải được khai báo, thống kê và báo cáo theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ y tể.” Điều 13 quy định: “Người sử dụng lao động có nghĩa vụ trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cả nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động theo quy định của Nhà nước; Xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy, thiết bị, vật tư và nơi làm việc theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước; Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định biện pháp an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ khai bảo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả 7 tình hình thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động với sở Lao động, Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động.” Điều 14 quy định: “Người sử dụng lao động có quyền buộc người lao động phải tuân thủ các quy định nội quy, biện pháp ATLĐ, VSLĐ; Khen thường người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện ATLĐ, VSLĐ.” Điều 15 quy định: “ Người lao động có nghĩa vụ phải chấp hành các nội quy về ATLĐ, VSLĐ có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao; Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn, vệ sinh nơi làm việc, nếu làm hư hỏng mất mát thì phải bồi thường; Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả TNLĐ khi có lệnh của người sử dụng lao động”. Điều 16 quy định: “Người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động; trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện, thực hiện biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động; Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra TNLĐ, đe doạ nghiêm trọng tính mạng, sức khoẻ của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp biết; Từ chối trở lại làm việc nơi nói trên nếu những nguy cơ đó chưa được khắc phục; Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thâm quyền khi người SDLĐ vi phạm quy định của Nhà nước hoặc không thực hiện đúng các giao kết về ATLĐ, VSLĐ trong hợp đồng thoả ước lao động”. Thông tư số 08 hướng dẫn công tác huấn luyện về an toàn lao động vệ sinh lao động quy định: [2] * Huấn luyện đối với người lao động gồm các nội dung sau: + Những quy định chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động. - Mục đích, ý nghĩa của công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động; 8 - Nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo quy định của Pháp lụât; - Nội quy an toàn lao động, vệ sinh lao động của doanh nghiệp.
+ Những quy định cụ thể về an toàn lao động, vệ sinh lao động. - Đặc điểm và quy trình làm việc bảo đảm an toàn, vệ sinh của máy móc, thiêt bị, công nghệ và nơi làm việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động; - Các quy phạm, tiêu chuẩn bắt buộc khi thực hiện công việc; - Các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động khi thực hiện công việc; - Cấu tạo, tác dụng và cách sử dụng, bảo quản trang cấp, phương tiện bảo vệ cá nhân; - Các yếu tố nguy hiểm, có hại, các sự cổ có thể xảy ra khi làm việc, cách đề phòng, xử lý khi phát hiện có nguy cơ xảy ra sự cố và khi có sự cố; - Các phương pháp y tế đơn giản để cứu người bị nạn khi xảy ra sự cố như băng bó vết thương, hô hấp nhân tạo, cứu sập. * Huấn luyện đối với người sử dụng gồm các nội dung sau: + Các văn bản pháp quy của Chính phủ, của các Bộ, của Ưỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương về an toàn lao động, vệ sinh lao động. + Các quy phạm, tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động phải thi hành.
+ Các thủ tục hành chính phải chấp hành khi sản xuất, sử dụng hoặc nhập khẩu các thiết bị máy có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động. + Tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh lao động.