Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Giới thiệu chung về công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp 1. Khái niệm kiểm tra thuế Hiện nay có rất nhiều lý thuyết về kiểm tra thuế. Trong cuốn “Nhập môn về luật thuế đại cương và lý thuyết thuế” của giáo sư Michel Bouvier (2005) chỉ ra rằng kiểm tra thuế là “hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai”[1].
Dựa theo giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện tài chính (2003) nêu rõ “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá”.[8] Từ những lý thuyết trên có thể tổng quát rằng kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế căn cứ vào Luật thuế Quản lý thuế, các Luật thuế khác có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành của Bộ tài chính, Tổng cục thuế trong việc xem xét, đánh giá tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra về số thuế đã khai, hồ sơ khai thuế. từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra. Đặc điểm của kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Đối tượng kiểm tra là các tổ chức, cá nhân thuộc ngành thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế. Thứ ba, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra. Đồng thời, người cán bộ thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất.
Vai trò của kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp - Kiểm tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế. Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập của doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu. Mỗi sắc thuế có những đặc điểm riêng, áp dụng trên từng lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau và cần có những cơ chế quản lý riêng. Mỗi sắc thuế trước khi ban hành về cơ bản đều được nghiên cứu kỹ, nhưng trên thực tế khi áp dụng đều có những bất cập.
Chính vì vậy, công tác kiểm tra thuế sẽ cung cấp các yếu tố, bằng chứng cụ thể phản ánh trực tiếp thực trạng áp dụng luật thuế, từ đó Nhà nước sẽ dễ dàng điều chỉnh luật thuế cho phù hợp với tình hình thực tiễn. - Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thu thuế. Số lượng các doanh nghiệp tăng dần qua các năm, mỗi doanh nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau và nộp các loại thuế khác nhau. Với chức năng là xem xét, đánh giá tình hình thực tế của các doanh nghiệp trong việc thực hiện nộp thuế, hoạt động kiểm tra thuế sẽ giúp ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế và các hoạt động khác trong kinh doanh.
Qua đó, cơ quan nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nước áp dụng các biện pháp xử lý dựa theo mức độ vi phạm để ngăn chặn các hành vi vi phạm của các đối tượng cũng như răn đe các đối tượng có ý định thực hiện hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. - Kiểm tra các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện. Thông qua quá trình kiểm tra, cơ quan thuế sẽ dễ dành đánh giá được việc thực hiện các văn bản pháp quy về thuế của cá doanh nghiệp. Từ đó có những đề xuất nhằm giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết trong quá trình kiểm tra thuế cũng như cơ chế quản quản lý thuế, hạn chế được việc các thủ tục về thuế gây phiền hà đến hoạt động của các doanh nghiệp.
Nguyên tắc kiểm tra thuế * Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế, ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế. Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hành mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất kỳ một cơ quan hoặc cá nhân nào. Kết luận kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật * Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung thực chính xác khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra.
Có như vậy mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thực, đánh giá sự vật hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư; không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỉ mỉ,cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn. * Nguyên tắc công khai dân chủ Tính công khai trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết,dân bàn,dân làm,dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân.
Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận kiểm tra. Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất. Dân chủ trong hoạt kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Dân chủ trong hoạt động kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng kiểm tra.
Thực hiện nguyên tắc này phải coi trọng việc tiếp nhận thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. * Nguyên tắc bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia.Nếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp. Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền biết. * Nguyên tắc hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó.
Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế. Các hình thức kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp * Phân loại theo thời gian Với tiêu thức phân loại này, kiểm tra được chia làm 2 loại: (1) Kiểm tra thường xuyên Thông thường chỉ có thể tiến hành kiểm tra thường xuyên, việc tiến hành kiểm tra thường xuyên chủ yếu là việc tự kiểm tra trong các đơn vị của ngành Thuế. (2) Kiểm tra bất thường (đột xuất) Hình thức kiểm tra này được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng kiểm tra hoặc do lãnh đạo đơn vị đặt ra. * Phân loại theo phạm vi Dựa vào tiêu thức này, kiểm tra được chia làm 2 loại, đó là: (1) Kiểm tra từng phần Hình thức kiểm tra này thường được áp dụng đối với một sắc thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp.
(2) Kiểm tra toàn phần Với hình thức kiểm tra này, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra toàn diện các mặt công tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hoặc toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 * Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra Theo tiêu thức phân loại này, kiểm tra thuế được chia thành 2 loại là: (1) Kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế) Với hình thức kiểm tra này, cơ quan thuế không đến làm việc tại cơ sở kinh doanh mà tiến hành kiểm tra các hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh tại cơ quan thuế.