CHƯƠNG I DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ KIỂM TOÁN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC KHI THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Doanh nghiệp Nhà nước và sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước và những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước Theo Luật doanh nghiệp thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Doanh nghiệp Nhà nước là do Nhà nước thành lập trong các ngành, lĩnh vực cung cấp những hàng hoá và dịch vụ có tính chất nhạy cảm hoặc giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
(Luật DNNN) Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (Luật DNNN) Hoặc: Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Một tổ chức kinh tế chỉ được gọi là “ Doanh nghiệp ” nếu nó được thừa nhận về mặt pháp luật trên một số tiêu chuẩn cơ bản như: - Vốn pháp định (Là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp). - Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. - Ngành nghề kinh doanh.
- Địa điểm trụ sở và tư cách công dân đứng ra kinh doanh… SV: Nguyễn Thị Thanh Vân Lớp: CQ44/22.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chuyên để cuối khóa Học viện tài chính Để từ đó Nhà nước có cơ sở trao cho những tổ chức kinh tế này những quyền lợi và nghĩa vụ trên môt tư cách mới đó là “ Doanh nghiệp ”. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước Về sở hữu: DNNN là DN do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý (trách nhiệm hữu hạn). Ở nước ta, DNNN mang đầy đủ bản chất quan hệ sản xuất XHCN, là tài sản của toàn dân mà NN là người đại diện đứng ra thực hiện quyền sở hữu, tổ chức và quản lý nhằm đem lại lợi ích cho toàn xã hội. Tuy nhiên, do đặc điểm sở hữu nói trên mà DNNN thường bị động về vốn, không tự chủ về tài chính nên không tự chủ trong kinh doanh, không chủ động sắp xếp lao động vì Nhà nước chưa đủ các chính sách phù hợp để giải quyết việc làm và đời sống cho số lao động dư thừa.
Về lĩnh vực kinh doanh: DNNN tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, đặc biệt là các DN thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, có quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại. + Ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội + Ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn + Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Giá trị doanh nghiệp và định giá doanh nghiệp Nhà nước Giá trị Doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà DN mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Để hiểu rõ khái niệm về Giá trị DN ở trên ta xét từ các khía cạnh sau: Thứ nhất : DN là một tổ chức, một đơn vị kinh tế chứ không giống như những “ tài sản ” thông thường.
Nó là một thực thể hoạt động, thông qua sự hoạt động mà người ta nhận dạng ra doanh nghiệp, DN không phải là một tập hợp các loại tài sản vào với nhau. Khi thực hiện phá sản, DN không còn tồn tại với tư cách của một tổ chức kinh doanh nữa. Khi đó, nó chỉ đơn giản là một sự hỗn hợp các SV: Nguyễn Thị Thanh Vân Lớp: CQ44/22.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chuyên để cuối khóa Học viện tài chính loại tài sản đơn lẻ, rời rạc mà người ta có thể thanh lý, phát mãi từng thứ riêng biệt như những hàng hóa thông thường – nó không còn đầy đủ ý nghĩa của một DN. Do vậy, giá trị DN là một khái niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
Thứ hai: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là một hàng hóa. Chúng có thể được trao đổi, mua bán như những hàng hóa thông thường khác. Khái niệm “ Doanh nghiệp ” cũng như khái niệm về “ giá trị Doanh nghiệp ” là những khái niệm thuộc phạm trù của kinh tế thị trường. Và vì vậy, quan niệm về giá trị, cũng như các tiêu chuẩn để nhận biết giá trị như đã nêu ở phần trên, hoàn toàn có thể sử dụng được để đánh giá Doanh nghiệp.
Thứ ba: DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần tử trong hệ thống lớn – nền kinh tế. Do đó, sự tồn tại của DN là ở mối quan hệ của nó với các phần tử khác của hệ thống, tức mối quan hệ với các đơn vị, thể nhân và pháp nhân kinh tế khác. Sự tồn tại của DN không chỉ được quyết định bởi các mối quan hệ bên trong DN mà còn bởi mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài, như: Khách hàng, người cung cấp, người cho vay… Sự phát triển của DN ở mức độ nào, là tùy thuộc vào mức độ bền chặt của các mối quan hệ đó với môi trường xung quanh, DN có đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình hay không sẽ phụ thuộc có tính quyết định ở các mối quan hệ đó, chính vì vậy, sự đánh giá về DN đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối quan hệ nói trên. Tức là, đánh giá về DN không chỉ đơn thuần bao gồm nội dung đánh giá về những tài sản trong Doanh nghiệp mà điều quan trọng hơn là phải đánh giá nó về mặt tổ chức.
Thứ tư : Các nhà đầu tư thành lập ra DN không nhằm vào việc sở hữu các tài sản cố định, tài sản lưu động (TSLD) hay sở hữu một bộ máy kinh doanh năng động mà nhằm vào mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm thu nhập. Tiêu chuẩn để họ đánh giá hiệu quả hoạt động – lợi ích của DN đối với các nhà đầu tư ở các khoản thu nhập từ hoạt động SXKD. Vì vậy, tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, giá trị DN được xác định là các khoản thu nhập trong quá trình sản xuất kinh doanh, độ lớn của giá trị DN. Theo đó, được đo bằng lượng thu nhập mà DN có thể mang lại cho các nhà đầu tư.
Nói tóm lại: Để xác định giá trị SV: Nguyễn Thị Thanh Vân Lớp: CQ44/22.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chuyên để cuối khóa Học viện tài chính doanh nghiệp. Xét về mặt nguyên lý, chỉ có thể tồn tại 2 cách tiếp cận, đó là: Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong DN và đánh giá giá trị của yếu tố tổ chức. Hoặc bằng một kỹ thuật nào đó để lượng hóa các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư. Vì vậy, một phương pháp xác định giá trị DN được gọi là cơ bản và khoa học, trước hết nó phải thuộc vào một trong hai cách tiếp cận nói trên.
Cổ phần hoá và sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phần hoá, công ty cổ phần, công ty cổ phần Nhà nước * Cổ phần hóa: Cổ phần hóa (CPH) là cách gọi tắt của việc chuyển đổi các DNNN thành công ty cổ phần ở Việt Nam. Chương trình cổ phần hóa bắt đầu được Việt Nam thử nghiệm trong các năm 1990-1991 và chính thức được thực hiện từ năm 1992 , được đẩy mạnh từ năm 1996, dự kiến sẽ cơ bản hoàn thành vào năm 2010. Cổ phần hoá DNNN là việc chuyển DNNN thành công ty Cổ phần, tức là chuyển đổi loại hình DN chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước thành loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động và tư nhân tham gia.
Cổ phần hoá là kết quả gián tiếp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp Nhà nước – Tư nhân, là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất lớn, ra đời trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là phạm trù kinh tế riêng của chủ nghĩa Tư bản. Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, đối tượng của cổ phần hoá là các DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn. Các DNNN sẽ được phân loại chia từng đợt để tiến hành CPH, các DNNN sau cổ phần hoá hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Lý do CPH là để gia tăng giá trị vốn, là chuyển quyền sở hữu từ khu vực công sang khu vực tư, chứ không phải để thu hồi vốn cho Nhà nước mà là bán tài sản cho các nhà đầu tư chiến lược với giá trị thị trường.
Ở nước ta hiện nay, so với các loại hình DN khác DN là công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn hẳn. Lợi thế đó xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lí mà pháp luật quy định. Trong mô hình công ty cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp, việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một SV: Nguyễn Thị Thanh Vân Lớp: CQ44/22.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chuyên để cuối khóa Học viện tài chính cách tự do thông qua việc bán cổ phần của các cổ đông. Ngoài ra, công ty cổ phần là loại hình có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt, cơ chế quản lý tập trung cao do có sự tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý.
Cũng chính vì những ưu điểm nổi bật hơn bất kỳ loại hình DN khác đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển hàng lọat các Công ty Cổ phần ở Việt Nam, đặc biệt trong hai năm 2006-2007 khi mà thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam phát triển sôi động và bùng nổ. Nhiệm vụ của Kế toán định giá DN chính là giúp DN xác định giá trị DN theo giá trị thị trường tại thời điểm CPH.