Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1. Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Về nguyên tắc, trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh cho phép các doanh nghiệp được tự mình đưa ra các quyết định kinh doanh. Các quyết định đơn phương đó cũng có thể có tác động hạn chế cạnh tranh nhưng sẽ chỉ bị coi là vi phạm luật chống độc quyền hoặc chống hạn chế cạnh tranh khi doanh nghiệp đưa ra các quyết định đó dựa trên “quyền lực thị trường” của mình.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lại là sự liên kết hoặc thống nhất cùng hành động của hai hay nhiều doanh nghiệp. Hành động này sẽ có tác động hạn chế cạnh tranh thông qua việc giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập của các đối thủ cạnh tranh. Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 (LCT năm 2018) quy định thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là “hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”. Như vậy, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được định nghĩa một cách khái quát bao gồm các thỏa thuận theo đó nhiều bên (từ hai trở lên) thống nhất thực hiện các hành vi có tác động hoặc có khả năng gây tác động “loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường”.
Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa mang tính khái quát, LCT năm 2018 liệt kê tại Điều 11 một danh mục mở các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm 10 dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cụ thể và các thỏa thuận khác nếu được xác định là “tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh” trên thị trường. 8 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm các thỏa thuận ngang hoặc thỏa thuận dọc. Thỏa thuận ngang diễn ra giữa các chủ thể là đối thủ cạnh tranh của nhau trong khi thỏa thuận dọc diễn ra giữa các bên kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định. Theo luật chống độc quyền của Hoa Kỳ (Sherman Act), các thỏa thuận ngang thường bao gồm: thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, thỏa thuận thông thầu hoặc thỏa thuận tẩy chay.
Các thỏa thuận ngang thường có tác động hạn chế cạnh tranh ở mức độ nghiêm trọng hơn và thường bị cấm một cách tuyệt đối mà không có ngoại lệ. Các thỏa thuận dọc thường bao gồm: thỏa thuận ấn định giá bán lại, thỏa thuận giao dịch độc quyền và thỏa thuận hạn chế theo lãnh thổ. Các thỏa thuận dọc thường có các ngoại lệ. Theo LCT năm 2004, các thỏa thuận dọc sẽ chỉ bị cấm khi nó được thực hiện bởi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay vị trí độc quyền.
Tuy nhiên, LCT năm 2018 đã mở rộng việc kiểm soát các thỏa thuận giữa các chủ thể trong cùng một chu trình sản xuất, phân phối cùng một loại hàng hóa, dịch vụ nếu thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chủ yếu là các doanh nghiệp. Luật cạnh tranh của nhiều quốc gia bao gồm Pháp 1 và của Liên minh Châu Âu2 coi chủ thể bị áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp. Mặc dù các quy định về kiểm 1 Theo Điều L.420-1 Bộ luật Dân sự Pháp thì hành vi thỏa thuận có tính chất hạn chế cạnh tranh có thể bị cấm là hành vi được thực hiện bởi các công ty.
2 Khoản 1 Điều 81 Hiệp định Rome. 9 soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nêu trên không đưa ra một định nghĩa về doanh nghiệp, theo nghĩa chung nhất, doanh nghiệp được hiểu là chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và là chủ thể độc lập trên thị trường, không phân biệt là thể nhân hay pháp nhân. Các chủ thể tham gia thỏa thuận ngang thường kinh doanh trên cùng một thì trường liên quan hoặc cùng kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định (đối thủ cạnh tranh). Trong các thỏa thuận dọc, các bên tham gia thỏa thuận thường cùng tham gia vào một chu trình sản xuất, phân phối một loại hàng hóa, dịch vụ.
Thông thường các thỏa thuận ngang thường tác động tiêu cực đến cạnh tranh nhiều hơn là thỏa thuận dọc. Các thỏa thuận dọc thường chỉ có tác động nguy hiểm đến cạnh tranh khi chúng có nội dung thể hiện việc lạm dụng quyền lực thị trường của một bên. Thứ hai, nội dung của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường tập trung vào các yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường mà các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau như giá, thị trường, trình độ kỹ thuật, công nghệ, điều kiện ký kết hợp đồng và các yếu tố khác trong nội dung của hợp đồng… Thứ ba, tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm hoặc thậm chí làm triệt tiêu, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, mỗi dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có tác động bất lợi đến thị trường ở các mức độ khác nhau vì thế mà không phải tất cả các thỏa thuận có tính chất hạn chế cạnh tranh đều bị xử lý.
Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1. Dựa vào mối quan hệ của các chủ thể Dựa vào mối quan hệ của các chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể phân chia các thỏa thuận này thành các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang và các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc. 10 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang là thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh trong cùng ngành hoặc cùng một khâu của quá trình kinh doanh (ví dụ: thỏa thuận giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn với nhau, giữa những người bán lẻ với nhau…). Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc là thỏa thuận hợp tác giữa hai hay nhiều doanh nghiệp hoạt động ở những khâu khác nhau trong quá trình sản xuất, hoặc phân phối, sản lượng phân phối, khách hàng giao dịch, điều kiện phân phối,… Nhìn chung, các thỏa thuận theo chiều dọc thường gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn tới môi trường cạnh tranh so với thỏa thuận theo chiều ngang.
Ở Việt Nam, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc bắt đầu được đưa vào kiểm soát từ LCT năm 2018. Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ xử lý các doanh nghiệp có quyền lực thị trường áp đặt các nghĩa vụ bất hợp lý cho nhà phân phối hoặc đại lý của mình khi hành vi đó được thực hiện bởi doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền theo các quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Dựa vào mức độ tác động hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận Dựa vào mức độ tác động hạn chế cạnh tranh có thể phân nhóm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng và thỏa thuận ít nghiêm trọng. Theo Khuyến nghị về các hoạt động hiệu quả chống các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng là một thỏa thuận hay sự thống nhất ý chí cùng hành động giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm ấn định giá, gian lận thầu (thông đồng đấu thầu), hạn chế sản lượng hoặc hạn ngạch, 11 phân chia thị trường theo nhóm khách hàng, nguồn cung ứng, khu vực địa lý hay các kênh thương mại.
Như vậy, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng thường là các thỏa thuận theo chiều ngang. Tuy nhiên, vẫn có những thỏa thuận ngang mang lại lợi ích kinh tế không chỉ cho bản thân doanh nghiệp mà còn làm lợi cho cả người tiêu dùng. Những thỏa thuận ngang như thế có thể gọi là thỏa thuận hợp tác, hay thỏa thuận ngang ít nghiêm trọng. Tóm lại, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ít nghiêm trọng là các thỏa thuận nằm ngoài các thỏa thuận bị pháp luật cạnh tranh quốc gia liệt vào nhóm hành vi bị cấm ngay khi thỏa mãn các dấu hiệu xác định hành vi mà không phải xem xét đến hệ quả thực tế cũng như không áp dụng ngoại lệ hoặc miễn trừ.
Khái quát pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1. Khái niệm kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc kiểm soát các thỏa thuận làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong những chế định cơ bản không thể thiếu trong pháp luật cạnh tranh của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng bởi tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của hành vi này đối với môi trường cạnh tranh. Ở Việt Nam, LCT năm 2004 là văn bản luật đầu tiên quy định một cách khá đầy đủ về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Cách tiếp cận của Việt Nam đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) theo hướng liệt kê đơn thuần, bao gồm 8 hành vi được quy định cụ thể tại Điều 8 của LCT năm 2004. Việc không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các thỏa thuận cụ thể đã gây nên những tranh luận cần thiết về hình thức và bản chất pháp lý của 12 thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Theo đó, chỉ những thỏa thuận được liệt kê tại Điều 8 Luật Cạnh tranh mới bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Trên thực tế, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp diễn ra ở nhiều công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối.
Do đó, có nhiều dạng biểu hiện khác nhau của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: thỏa thuận giữa những người bán với nhau (ví dụ như thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường…); thỏa thuận giữa những người mua; thỏa thuận trong đấu thầu.