LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa tài chính đã thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh mẽ và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến, được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu sắc vào nền kinh tế thế giới, trong bối cảnh đó, đòi hỏi phải có một hệ thống thanh toán hiện đại, phát triển để bắt nhịp được vào xu thế chung của toàn cầu. Không riêng hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các Bộ ngành, Kho bạc Nhà nước cũng đang hướng tới hình thành Kho bạc điện tử.
Theo chiến lược phát triển của Kho bạc Nhà nước đến năm 2025, về cơ bản Kho bạc Nhà nước sẽ không thực hiện giao dịch bằng tiền mặt. Để tăng cường kiểm soát và thúc đẩy nhanh việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế nước ta, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn về việc thanh toán dùng tiền mặt như: Nghị định 161/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính Phủ, Thông tư số 164/2011/TT- BTC ngày 17/11/2011 và Thông tư số 13/2017/TT-BTC ngày 15/02/2017 của Bộ tài chính quy định về quản lý thu, chi tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước. Thanh toán điện tử đóng vai trò kết nối giữa các Kho bạc Nhà nước trong cùng hệ thống và các ngân hàng để đảm bảo thanh toán được an toàn, nhanh chóng và đảm bảo kiểm soát chặt chẽ ngân sách quốc gia. Để thực hiện chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt toàn dân, Kho bạc Nhà nước cũng tăng cường kiểm soát các khoản thu, chi ngân sách nhà nước không dùng tiền mặt qua Kho bạc Nhà nước.
Kiểm soát chặt chẽ các khoản thu, chi ngân sách nhà nước luôn là mối qua tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, góp phần quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính của đất nước một cách đúng 2 mục đích, có hiệu quả, đồng thời là một biện pháp hữu hiệu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trong những năm qua, thanh toán không dùng tiền mặt qua Kho bạc Nhà nước Cao Bằng nói chung và thu, chi ngân sách nhà nước không dùng tiền mặt nói riêng đã từng bước được thực hiện hiệu quả và góp phần nâng cao về chất lượng, tiết kiệm thời gian thực hiện. Tuy nhiên, cho đến nay ở Cao Bằng tỷ lệ dùng tiền mặt để thanh toán của 1 số đơn vị sử dụng ngân sách hiện nay vẫn rất cao(16,57% năm 2020). Với đặc điểm là tỉnh miền núi, có nhiều địa phương là các huyện biên giới, địa hình phức tạp, người dân chủ yếu sống ở nông thôn, vùng núi, vùng khó khăn, hệ thống giao thông chưa phát triển, thường có thói quen sử dụng tiền mặt và e ngại khi tiếp xúc với công nghệ thông tin và có suy nghĩ thu, chi không dùng tiền mặt phải đến ngân hàng để làm thủ tục chuyển khoản, lo lắng nếu chuyển khác hệ thống ngân hàng sẽ khó khăn, tắc nghẽn hệ thống.không đáp ứng được nhu cầu thanh toán nên nhiều khách hàng vẫn nhiều e ngại do vậy khách hàng vẫn có tâm lý muốn giao dịch bằng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước.
Năm 2014 khi mới triển khai thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Cao Bằng, tỷ lệ thanh toán chuyển khoản các khoản chi ngân sách nhà nước chỉ đạt từ 53,52%và tỷ lệ thu ngân sách nhà nước bằng chuyển khoản đạt 65,85%. Đến năm 2020 tỷ lệ thanh toán các khoản chi bằng chuyển khoản đã tăng lên đến 83,43%, tỷ lệ thu ngân sách nhà nước bằng chuyển khoản đạt 89,50%. Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên qua các năm nhưng một số đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước vẫn chưa quen giao dịch điện tử và duy trì thói quen rút tiền mặt về đơn vị để chi hoạt động làm cho tỷ lệ này chưa đạt được 100% theo mục tiêu định hướng của Chính phủ và Kho bạc Nhà nước. Xuất phát từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Kiểm 3 soát thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Cao Bằng” cho luận văn cao học của mình.
Tổng quan các công trình khoa học đã được công bố liên quan tới đề tài Chi ngân sách nhà nước hàng năm qua Kho bạc Nhà nước là khoản chi lớn của Nhà nước (chiếm từ 70-80%) vì vậy việc tăng cường kiểm soát thanh toán không dùng tiền mặt tại các Kho bạc Nhà nước luôn được quan tâm, chú trọng đặc biệt. Đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học viết về lĩnh vực này: 1.“Hoàn thiện hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt và tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Thái Nguyên” (Hoàng Thị Tố Hoài, 2015) Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, trường Đại học dân lập Thăng Long. Luận văn đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt và tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên; phân tích, đánh giá những mặt được và chưa được của kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nướcThái Nguyên đồng thời đề xuất được các giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên, nhưng về kiểm soát thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên vẫn còn mờ nhạt.“Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện nay” (Trần Thị Ánh, 2014). Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện tài chính.
Luận văn đã khái quát được những lý luận cơ bản, phân tích được thực trạng và đề ra các giải pháp. Tuy nhiên, luận văn được thực hiện trước khi Kho bạc Nhà nước triển khai hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) và thực hiện cam kết chi. Vì vậy, chưa đánh giá được hết các kết quả, cũng như bất cập trong công tác kiểm soát thanh toán không dùng tiền mặt 4 hiện nay.“Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN” (Vũ Nguyệt Vân, 2017). Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia Kho bạc Nhà nước Việt Nam,(180), tr.16- 17 Bài viết đã khái quát được những vấn đề lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt qua Kho bạc Nhà nước tại Việt Nam, phân tích thực trạng, đánh giá được kết quả, chỉ ra hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soátthanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước.
Tuy nhiên, các nhóm giải pháp của tác giả đưa ra còn chưa thật toàn diện.“Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Hà Nội” (Nguyễn Hoàng Tiến, 2008). Luận văn đã khái quát được những lý luận cơ bản, phân tích được thực trạng và đề ra các giải pháp. Tuy nhiên, luận văn được thực hiện trước khi Kho bạc Nhà nước triển khai hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) và thực hiện cam kết chi. Vì vậy, chưa đánh giá được hết các kết quả, cũng như bất cập trong công tác kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản hiện nay.“Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng” (Đoàn Kim Khuyên, 2012).
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh. Điểm nổi bật của luận văn đã chỉ ra được mức độ hài lòng của các tổ chức, cá nhân giao dịch tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng trong hai năm 2009 và 2010.“Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà Nước qua Kho bạc Nhà nước Ba Đình” (Trần Xuân Hiệp, 2013). Luận văn đã phân tích được thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương qua Kho bạc Nhà nước quận Ba Đình, chỉ rõ kết quả đạt được và hạn chế đề xuất một số giải 5 pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm nâng cao vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu tư nói chung và Kho bạc Nhà nước Ba Đình nói riêng. Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu hẹp trong phạm vi một Kho bạc Nhà nước quận nên luận văn chưa khái quát hết được những tồn tại, khó khăn trong công tác Kiểm soát chi, các giải pháp đề ra cũng chỉ giải quyết trong khuôn khổ rất hẹp.“Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước Quảng trị”, (Võ Xuân Tịnh, 2013), Kho bạc Nhà nước Quảng Trị.
Đề tài khoa học cấp ngành. Đề tài đã đánh giá được thực trạng kiểm soát chi đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước Quảng Trị, chỉ ra những vấn đề bất cập trong kiểm soát chi đầu tư công, đề xuất được 3 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước Quảng Trị. Ngoài ra, trên Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia có rất nhiều bài viết đề cập đến kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản, ví dụ như: “Tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu tư - những vấn đề rút ra từ thực tiễn”, (Lê Hồ Thanh Tâm, 2013) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 132, trang 22-23; “Triển khai thực hiện cam kết chi qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện vận hành TABMIS”, ( Ths Phạm Bình, 2013) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 138, trang 17-19; “Quản lý và kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước: 7 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện” (Vĩnh Sang, 2014) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 139+140, trang 50-54; “Một số giải pháp tăng cường quản lý tạm ứng và thu hồi tạm ứng trong công tác kiểm soát thanh toán các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước”, tác giả Trương Thị Tuấn Linh, 2014.Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 144, trang 18-19; “Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2014”, (Nguyễn Thị Hồng Thúy, 2014) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 146, trang 29-31; “Nâng cao hiệu quả kiểm soát và giải 6 ngân vốn đầu tư”, (Lâm Hồng Cường, 2014) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 150, trang 16-18.