Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH 1. Một số khái niệm về tài sản, của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh 1. Khái niệm tài sản, thu nhập Quan niệm về tài sản Tài sản là khái niệm gắn liền với sự hình thành, phát triển của xã hội. Tài sản tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phong phú và đa dạng.
Khi hình thành các ý niệm về sở hữu thì quan niệm về tài sản bắt đầu được thể hiện đầy đủ hơn. Theo ngôn ngữ thông thường, tài sản đôi khi được gọi là “của cải” để ám chỉ mức độ giàu có của mỗi người trong xã hội và nói đến quyền sở hữu của con người đối với của cải đó. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì tài sản là “Các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản” [57, tr.
Tuy có nhiều quan niệm về tài sản nhưng khái quát chung lại thì tài sản có một số đặc điểm như: i) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định; ii) đáp ứng một lợi ích nhất định của con người, có thể là lợi ích vật chất hoặc tinh thần; iii) mang tính giá trị (giá trị và giá trị sử dụng) Tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” [33]. Trong đó: - Vật với tư cách là tài sản được hiểu là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật và tồn tại ở mọi trạng thái (rắn, 10 lỏng, khí).
Tuy nhiên, để một vật được coi là tài sản thì phải thỏa mãn những điều kiện sau: Là một dạng thức vật chất tồn tại khách quan và quan trọng là phải có giá trị; được con người chiếm hữu, quản lý và có thể đưa vào giao dịch; có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai. - Tiền là vật ngang giá được dùng để xác định giá trị của các loại tài sản. Tiền phải có giá trị thực tế, nó được xem là một dạng tài sản đặc biệt trong quan hệ pháp luật dân sự. - Giấy tờ có giá là một loại tài sản phổ biến hiện nay, được dùng làm giao dịch trung gian như tiền và do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành, được bảo đảm giá trị như: hối phiếu, séc, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu….
- Quyền tài sản là quyền được định giá bằng tiền hoặc quy ra được bằng tiền và có thể chuyển nhượng. Quyền tài sản được pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ và ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Một số quyền tài sản hiện nay được công nhận như quyền tác giả, quyền bí mật thương mại, quyền sở hữu công nghiệp… Từ những phân tích trên, có thể khái quát về định nghĩa tài sản như sau: “Tài sản được hiểu là các lợi ích mà một chủ thể chiếm hữu nhằm để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt, kinh doanh”. Quan niệm về thu nhập Về thu nhập cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt thì thu nhập là “. nhận được tiền nong, của cải từ một hoạt động nào đó để chi dùng cho cuộc sống” [27, tr. 234]; thu nhập là “khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó” [49, tr. 725 - 726] Các định nghĩa nêu trên mặc dù chưa phản ánh được đầy đủ mọi khía cạnh của thu nhập nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một số đặc điểm sau: i) thuộc về một chủ thể trong xã hội; ii) biểu hiện mức độ sở hữu tài sản của một 11 chủ thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ; iii) được hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện.
Thu nhập cũng có thể được phân loại theo những tiêu chí tiếp cận khác nhau như: - Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập: có thể phân thành thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương, tiền thưởng,…) và thu nhập không từ lao động (được thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng, quà biếu…) - Căn cứ vào tính chất phát sinh thu nhập: có thể phân thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên; thu nhập chính và thu nhập phụ. - Căn cứ vào tính chất pháp lý của thu nhập: có thể chia thành thu nhập hợp pháp và thu nhập không hợp pháp. - Căn cứ vào quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân: có thể phân thành thu nhập chịu thuế và thu nhập được miễn thuế. Mặc dù có nhiều quan niệm về thu nhập nhưng từ những phân tích trên có thể định nghĩa: “Thu nhập là tổng các giá trị của cải được quy đổi thành tiền mà một chủ thể nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập”.
Mối quan hệ giữa tài sản và thu nhập Giữa tài sản và thu nhập của một chủ thể có mối liên hệ mật thiết, nhưng không đồng nhất. Thu nhập là giá trị, lợi ích nhận được theo công sức lao động chính đáng được cơ quan sử dụng lao động ghi nhận, hoặc được tặng cho, thừa kế trong một khoảng thời gian nhất định. Còn tài sản là những vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền về tài sản mà một người có được hoặc sẽ có được từ việc chuyển nhượng, mua bán, đầu tư kinh doanh, làm ra, ngoài ra tài sản có được còn có thể do được được thừa kế hay được biếu tặng v. Thu nhập tương đối thường xuyên, có tính chất định kỳ (thu nhập từ lương, công lao động, thu nhập từ tiền cho thuê nhà.
Trong khi đó tài sản là những thứ được tích lũy từ nhiều nguồn thu nhập khác nhau và có được không mang tính thường xuyên; cũng có thể coi thu nhập là nguồn vật chất tạo nên tài sản. 12 Thông qua thu nhập, cho phép đánh giá tỷ lệ tương đối của thu nhập chính so với thu nhập phụ để so sánh, đánh giá xem thu nhập từ lao động mà cá nhân đang nắm giữ có tương xứng với những tài sản mà họ đang sở hữu hay không. Ngoài ra, thu nhập còn là một trong những căn cứ góp phần xác định xem tài sản họ sở hữu có xuất phát từ nguồn gốc hợp pháp hay không để có hướng xử lý phù hợp. Như với cán bộ, công chức, viên chức là những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên tiền lương là nguồn thu căn bản của họ, ngoài ra họ cũng có thể có những nguồn thu hợp pháp khác như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở, đầu tư kinh doanh.
Do đó, nếu một người có tài sản lớn hơn mức thu nhập hợp pháp của họ thì có thể xem là căn cứ để xác minh về nguồn gốc tài sản và áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp nếu tài sản đó hình thành bất hợp pháp như do tham ô, nhận hối lộ mà có. Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh Quan niệm về cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh Trong thực tiễn và khoa học có nhiều cách hiểu về thuật ngữ cơ quan hành chính nhà nước. Trong Từ điển tiếng Việt, cơ quan HCNN được hiểu là “tổ chức cấu thành hệ thống HCNN thống nhất, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước. Cơ quan HCNN giữ vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác đồng thời là hệ thống thống nhất, trong đó, các cấp, các bộ phận có liên hệ hữu cơ với nhau và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ” [23, tr.
28] Trong một số giáo trình Luật học có viết “Cơ quan HCNN là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia vào các quan hệ quản lý nhân danh quyền lực nhà nước” [23, tr. “Cơ quan HCNN là cơ quan đảm nhiệm chức năng quản lý, điều hành xã hội mang tính chất chuyên nghiệp. được tổ chức thành một hệ thống hành chính thống nhất từ trung ương xuống đến cơ sở, 13 do cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) lập ra và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan đại diện đó. Ở nước ta, hệ thống các cơ quan hành chính gồm Chính phủ, các bộ, UBND tỉnh, UBND huyện, UBND xã và các sở, ban, ngành trực thuộc” [23, tr.
Trong giáo trình Lý luận hành chính nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia, cơ quan HCNN được định nghĩa “là một tổ chức tương đối độc lập, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập ra theo quy định của pháp luật để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ nhất định của quản lý hành chính nhà nước” Từ những quan niệm nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất về khái niệm “cơ quan hành chính nhà nước” như sau: Cơ quan HCNN là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước; trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp; có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành - điều hành, thực hiện chức năng quản lý nhà nước; có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. Hệ thống cơ quan HCNN được thành lập từ Trung ương đến địa phương, có tính trực thuộc và tính thứ bậc chặt chẽ. Cơ quan HCNN ở Trung ương bao gồm Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trong đó Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.