CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÌNH TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Khái quát về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng 1. Khái niệm về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng Sở hữu chéo có tên quốc tế là “Crow-ownership”, cụm từ này xuất hiện bắt đầu từ những năm 1969 theo Merriam-Webster. Sở hữu chéo là một hiện tượng kinh tế trong vấn đề quản trị doanh nghiệp được các nhà kinh tế cũng như giới học thuật nghiên cứu nhằm phân tích và chỉ ra sự tác động của nó trong quá trình các doanh nghiệp tổ chức vận hành doanh nghiệp của mình ở nhiều khia cạnh khác nhau và ảnh hưởng của vấn đề của sở hữu chéo đến nền kinh tế.
Cụ thể theo từ điển tiếng Anh Cambridge “sở hữu chéo là việc hai công ty sở hữu cổ phần lẫn nhau”. Mark Scher (2001) định nghĩa: “Sở hữu chéo là việc hai doanh nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau. Các doanh nghiệp có thể cùng ngành, có thể là nhà cung cấp và khác hàng, hoặc là chủ nợ với con nợ”.Và cụ thể hơn liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, GUO Li YAKURA Shinsuke (2010) cho rằng sở hữu chéo một hoạt động trong đó các cặp công ty trao đổi cổ phần với nhau nhằm tăng cương mối quan hệ giữa các công ty và đôi khi là các ngân hàng. Hiện tại Luật TCTD năm 2010 sửa đổi 2017 đang có hiệu lực chưa đưa ra một khái niệm rõ ràng về “sở hữu chéo“.
Tuy nhiên vấn đề sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng đã được đề cập tại tại Quyết định số 254/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt đề án “cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”, theo đó “Sở hữu chéo là việc sở hữu vốn thông qua việc nắm giữ cổ phần một cổ đông, cổ đông và người có liên quan của cổ đông, giữa ngân hàng và doanh nghiệp, giữa ngân hàng và các TCTD khác có liên quan nhằm chi phối, thao túng hoạt động của ngân hàng”.(NHNN) Từ đó khái niệm về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng được định nghĩa như sau: “Sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng là tình trạng sỡ hữu vốn thông qua việc nắm giữ cổ phần của một cổ đông, cổ đông và người của cô đông có liên quan, 7 giữa ngân hàng và doanh nghiệp, giữa ngân hàng và các TCTD khác nhằm mục đích thao túng, chi phối hoạt động của ngân hàng”. Khái niệm về sỡ hữu chéo trong linh vực ngân hàng có phạm vi hẹp hơn so với khái niệm sở hữu chéo trong doanh nghiệp nói chung. Phân loại sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng 1. Sở hữu chéo theo chiều ngang Sở hữu chéo theo chiều ngang là việc các doanh nghiệp mua cổ phần lẫn nhau có tính chất ngang hàng không làm phát sinh mối quan hệ sỡ hữu có tính thứ bậc và không làm phát sinh mối quan hệ giữa doanh nghiệp mẹ - doanh nghiệp con Hình 1.1: Sở hữu chéo theo chiều ngang Ở mô hình này, doanh nghiệp A sẽ sở hữu 20 cổ phần của doanh nghiệp B và ngược lại, doanh nghiệp B sẽ sở hữu 20 cổ phần của doanh nghiệp A.
Việc sở hữu chéo trên có tính chất nắm giữ trực tiếp cổ phần lẫn nhau và thường xảy ra trong các doanh nghiệp có chung lĩnh vực kinh doanh, hoặc ở các doanh nghiệp có mong muốn hợp tác lẫn nhau để mở rộng quy mô cả về lĩnh vực hoạt động cũng như về nhân lực, vật lực. Từ đó mà tạo ra các cụm doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn hay cụ thể hơn là các liên minh ngân hàng nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, năng lực tài chính so với các đối thủ trên thị trường. Sở hữu chéo kim tự tháp Sở hữu chéo theo kim tự tháp là việc việc một cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu nhiều cổ phần nhất ở phần đỉnh nhằm chi phối, kiểm soát các doanh nghiệp bị thâu tóm lần lượt ở phía dưới dược sắp xếp ở nhiều tầng theo các cấp bậc từ trên xuống dưới ( mô hình kim tự tháp đơn thuần ). Cách mô tả này được minh họa với mô hình như sau: 8 Hình 1.2: Sở hữu chéo theo chiều dọc Trong mô hình này, giả sử B và C là hai doanh nghiệp sở hữu vốn lẫn nhau theo hướng hai chiều với tỷ lệ lệ 40.
Sau đó hai doanh nghiệp này cùng đầu tư góp vốn mua cổ phần tại ngân hàng A với tỷ lệ lần lượt là 15 như trên. Nếu số cổ phần dựa trên tổng số vốn điều lệ của ngân hàng A bị phân tán thông qua việc chào bán cổ phần cho các cô đông nhỏ lẻ, thì dĩ nhiên hoặc B hoặc C, hoặc cả hai doanh nghiệp này có liên quan đến cơ cấu sở hữ cổ phần đến nhau đương nhiên sẽ trở thành cổ đông lớn của ngân hàng A với tỷ lệ sở hữu 15 , mà trên thực tế A hoặc B đã sở hữu 30 số cổ phần dựa trên tổng vốn điều lệ của ngân hàng A, qua đó tước quyền kiếm soát của nhóm các cổ đông nhỏ lẻ có sự tác động đáng kể liên quan đến quá trình biểu quyết liên quan đến các nội dung hoạt động quan trong của ngân hàng A. Mô hình sở hữu này có tình chất sở hữu gián tiếp nhằm chi phối một doanh nghiệp khác, và sở hữu chéo có thể trở nên phức tạp hơn nếu có nhiều hơn hai doanh nghiệp B và C (có thể bảo gồm sự tham gia của các công ty con, công ty liên kết), tạo ra một “ma trận“ sở hữu chéo nhằm luôn chuyển vốn một cách lòng vòng gây khó khăn cho các nhà quản lý và các cơ quan thực thi pháp luật nhằm xác định rằng có bao nhiêu chủ thể là cổ đông của doanh nghiệp với tỷ lệ nắm giữ là bao nhiêu, khó khăn nhất là xác định được chủ thể nào là cổ đông cuối cùng (chủ sở hữu) lớn nhất đối với doanh nghiệp đó. Phân loại sở hữu chéo theo quy định của pháp luật Việt Nam 9 Sở hữu chéo đã xuất hiện ở Việt Nam khá lâu, phổ biến nhất từ giai đoạn 2008 – 2014 và theo báo cáo Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội xác định có 6 nhóm sở hữu chéo chính: “(1) Sở hữu của các ngân hàng trong nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; (2) cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM trong nước; (3) cổ đông tại các ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; (4) sở hữu của các NHTM Nhà nước tại các NHTMCP; (5) sở hữu lẫn nhau giữa các NHTMCP; 6) sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân”.
Và trong khóa luận này, do kiến thức và thời lượng tiến hành nghiên cứu có hạn, tác giả chỉ đề cập đến 2 nhóm sở hữu chéo đó là: sở hữu chéo lẫn nhau giữa các NHTMCP và sở hữu NHTMCP với tư nhân, bởi đây là hai hình thức sở hữu có tính phức tạp và gây ra rủi ro lớn đối với hệ thống ngân hàng đặt trong bối cảnh hiện nay. Khái quát pháp luật về kiểm soát tình trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng 1. Khái niệm về pháp luật kiểm soát tình trạng sở hữu chéo theo quy định pháp luật Việt Nam Lĩnh vực ngân hàng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, được coi là ngành mũi nhọn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội mang tính chất chiến lược. Điều đó đã được thể hiện rõ trong trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như quyết định của Chính Phủ, đề án của Ngân hàng Nhà nước về chiến lược phát triển ngân hàng qua các năm theo từng lộ trình cụ thể nhằm tăng cường tính cạnh tranh, năng lực quản trị, và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
10 Trước hết, pháp luật là: “hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”. Cụ thể hơn, các quan hệ xã hội rất đa dạng, dựa trên những tính chất và nội dung riêng của từng mối quan hệ xã hội, Nhà nước sẽ dựa trên ý chí của mình tạo hành lang pháp lý riêng theo từng ngành luật cụ thể theo từng lĩnh vực hoặc trong phạm vi hẹp hơn là một nhóm các chế định luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo định hướng, mục đích nhất định. Sở hữu chéo là một hiện tượng kinh tế trong quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Nếu đặt hiện tượng này ở thời điểm hiện tại đối với lĩnh vực ngân hàng, sở hữu chéo mang lại rủi ro và hệ quả rất lớn đối với sự ổn định và phát triển trong hoạt động mang tính nghiệp vụ của từng ngân hàng nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung, bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm đối với kinh tế, đối với xã hội và pháp luật xác định đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Vì vậy vấn đề này được nhà nước can thiệp thông qua ban hành các văn bản phạm pháp luật nhằm can thiệp và xử lý một cách hiệu quả và kịp thời, từ đó có thể nêu ra khái niệm pháp luật về kiểm soát tình trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng như sau: “Pháp luật về kiểm soát tình trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng là tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước đặt ra nhằm xử lý, ngăn trạng tình trạng tiêu cực phát sinh trong các mối quan hệ liên quan đến sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành tình trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Thứ nhất, sở hữu chéo bắt nguồn từ những quy định của Chính phủ về mức vốn điều lệ tối thiểu để hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, đặc biệt là hoạt động tài chính ngân hàng. Nhằm bảo đảm các ngân hàng khi thành lập và đi vào hoạt động có đủ lượng vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh ngân hàng vốn có nhiều rủi ro, Chính phủ các nước thường quy định mức vốn điều lệ tối thiểu theo lộ trình nhất định mà các ngân hàng phải đạt được.