CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: LÊ THANH QUỲNH NHƯ 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: NGUYỄN VĂN MINH 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY CAO SU 1.1 Sơ lược nguồn gốc Cây cao su (Hevea brasiliensis) là một loại cây thân gỗ thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae) là cây duy nhất được chọn để trồng và khai thác trên quy mô lớn trong số rất nhiều họ cây cao su khác nhau (Nguyễn Hữu Trí, 2004). Cây cao su có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, lưu vực sông Amazone – Nam Mỹ (Souza và cs.Wickham du nhập vào châu Á và châu Phi năm 1876. Cao su lần đầu tiên đưa vào Đông Dương do J.Louis Pierre trồng tại Thảo cầm viên Sài Gòn năm 1877. Sau nhiều lần thất bại, năm 1897, bác sĩ Yersin đã thành công khi đưa cao su trồng tại Suối Dầu – Nha Trang.
Đầu thập niên 50 một số diện tích cao su cũng định hình tại Tây Nguyên và miền Trung.2 Vai trò Cao su có tầm quan trọng kinh tế lớn do chất lỏng tiết ra như nhựa cây của nó gọi là nhựa mủ - latex được thu thập lại và có giá trị cao trong sản xuất cao su tự nhiên (Trần Đức Viên, 2008).3 Tình hình chung Trong những năm gần đây, sản lượng mủ không ngừng được nâng cao nhờ những cải tiến về giống, kỹ thuật, quy trình khai thác. Tuy nhiên, những thiệt hại do bệnh cũng gia tăng đáng kể. Theo Chee (1976), cây cao su bị trên 550 loài vi sinh vật tấn công, trong đó có 24 loài có tầm quan trọng về kinh tế. Đồng thời, có 24 loại bệnh hại cho cây cao su Việt Nam (Nguyễn Hải Đường, 1997).2 TỔNG QUAN BỆNH RỤNG LÁ CAO SU Corynespora 1.1 Biểu hiện bệnh Triệu chứng trên cây trưởng thành: lá xuất hiện vệt như xương cá là triệu chứng đặc trưng nhất của bệnh rụng lá Corynespora, được ghi nhận tại nhiều nơi trên thế giới SVTH: LÊ THANH QUỲNH NHƯ 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: NGUYỄN VĂN MINH bao gồm Sri Lanka, Indonesia, Malaysia và châu Phi (Jayasinghe và cs, 1999).
Khi quan sát trên vườn cây có thể thấy lá vàng ở cả tầng giữa và tầng lá trên, nhìn từ dưới lên có thể thấy lá bệnh vàng lốm đốm, lá non xoắn cuộn lại. Triệu chứng bệnh tùy thuộc vào tính mẫn cảm của dòng vô tính, điều kiện thời tiết, giai đoạn trưởng thành của cây, nơi canh tác và các vị trí bị hại. Triệu chứng trên lá: lá non có các vết bệnh hình tròn chuyển từ xám đến nâu có vòng vàng bao xung quanh. Rụng lá lặp đi lặp lại nhiều lần dẫn đến chết cây (Liyanage và cs, 1986).
Với những lá có màu xanh, triệu chứng đặc trưng với vết bệnh màu vàng chuyển sang đen, đường kính khoảng 1-3 mm, phân bố dạng xương cá dọc theo gân lá. Nếu gặp điều kiện thuận lợi các vết bệnh phát triển rộng gây chết từng phần sau đó toàn bộ lá và bắt đầu rụng lá chét (Phan Thành Dũng, 2010). Triệu chứng trên chồi và cuống lá: dấu hiệu đầu tiên với vết nứt dọc theo cuống và chồi có dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hóa đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết chồi, đôi khi chết cả cây. Trên cuống lá có vết nứt màu đen có chiều dài từ 0,5- 3,0 mm.
Nếu cuống bị hại thì toàn bộ lá chét bị rụng mặc dù không có bất cứ triệu chứng nào trên phiến lá (Phan Thành Dũng, 2010).1 Triệu chứng bệnh hại trên cây cao su; SVTH: LÊ THANH QUỲNH NHƯ 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: NGUYỄN VĂN MINH A. dạng bệnh đốm và xương cá; B. đốm có lỗ và viền vàng; C. héo và bạc đầu lá; D.
dạng xương cá và cháy phiến lá (Phan Thành Dũng, 2010).2 Ảnh hưởng của bệnh Bệnh rụng lá Corynespora được gây ra do tác nhân nấm Corynesporaa cassiicola. Đây là loại bệnh gây thiệt hại rất nặng nề và trở thành đại dịch ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngoài việc gây rụng lá hàng loạt, nấm Corynespora còn ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con và giảm sản lượng mủ của cây đang thu hoạch. Bệnh xuất hiện lần đầu tại Sierra Leone (châu Phi) vào năm 1936 tiếp đó là Ấn Độ năm 1958, Malaysia năm 1961,…Tại Malaysia, Thái Lan và Indonesia gây ra hàng ngàn ha cao su bị hại nặng có khi chết toàn bộ cây (Phan Thành Dũng, 2009).
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện trên cây cao su tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên vào tháng 8 năm 1999. Dịch hại xuất hiện gây hại cho gần 3.000 ha cây cao su tại Quảng Nam và Sa Thầy vào năm 2009. Năm 2010, bệnh đã phát sinh trên diện rộng ở một số tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và miền Trung, tập trung trên các dòng vô tính cao su RRIV 4 (Nguyễn Anh Nghĩa và Phan Thành Dũng, 2011). Ở Sri Lanka, chỉ một năm sau lần phát hiện đầu tiên, bệnh rụng lá Corynespora đã trở thành dịch bệnh và kéo dài từ năm 1986 đến 1988.000 ha cao su mà chủ yếu là dòng vô tính RRIC103 và một vài dòng vô tính mẫn cảm khác đã bị nhiễm bệnh nghiêm trọng.
Chính phủ Sri Lanka đã phải chi ra hơn 530.000 USD để bồi thường cho khoảng 3.000 hộ tiểu điền bị ảnh hưởng để loại bỏ các dòng vô tính này và trồng lại bằng các dòng vô tính kháng bệnh (Liyanage và cs. Ở Indonesia, sau khi phát hiện bệnh vào năm 1980, bệnh rụng lá Corynespora đã dần lan sang các vùng trồng cao su khác. Từ năm 1996, bệnh Corynespora đã xuất hiện ở tất cả các vùng trồng cao su ở nước này. Trong những năm 1980, gần 1.200 ha cao su đã bị nhiễm bệnh nặng, trong đó 400 ha phải bị loại bỏ hoàn toàn với thiệt hại kinh tế lên đến 200 tỉ Rupiah (hơn 20 triệu USD) (Liyanage và cs.
SVTH: LÊ THANH QUỲNH NHƯ 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: NGUYỄN VĂN MINH Ở Ấn Độ, từ năm 1996 toàn bộ các vùng trồng cao su đều xuất hiện bệnh Corynespora. Dịch bệnh rụng lá Corynespora được ghi nhận lần đầu tiên tại Viện nghiên cứu cao su Ấn Độ (RRII) và Trạm Nghiêncứu Giống cao su ở Nam Karnataka (Rajalakshmy và Kothandaraman, 1996). Kế tiếp, vào năm 1999, bệnh Corynespora trở nên nghiêm trọng với tỉ lệ bệnh lên đến 50 – 70 % ở một số vùng trồng cao su.000 ha cao su bị ảnh hưởng và phải phun thuốc diệt nấm (Jacob, 2006). Tháng 8 năm 1999, bệnh Corynespora được phát hiện ở Việt Nam ngay tại Trạm Thực nghiệm cao su Lai Khê thuộc Viên Nghiên cứu cao su Việt Nam (RRIV).
Đến tháng 9/1999, bệnh được phát hiện ở các khu vực trồng cao su khác ở Đông Nam Bộ, chủ yếu là hai dòng vô tính RRIC 103 và RRIC 104. Triệu chứng đặc trưng của bệnh được tìm thấy ở cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản lẫn cây cao su trưởng thành. Các dòng vô tính khác cũng dược xác định là rất mẫn cảm với bệnh là LH 88/372, RRIC 103 và RRIC104 (Dung and Hoan, 1999). Tháng 1 năm 2000, bệnh bùng phát và lây lan nhanh chóng tại công ty cao su Lộc Ninh, hơn 200 ha cao su đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản của dòng vô tính RRIC 104 rụng lá hoàn toàn, buộc phải thanh lý và thiêu hủy để hạn chế mầm bệnh lây lan.
Từ lúc phát hiện cho đến nay, số lượng dòng vô tính cao su bị nhiễm bệnh đã tăng lên rất đáng kể. Theo số liệu điều tra của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, năm 2006, 148/148 dòng vô tính được điều tra đều bị nhiễm bệnh với mức độ nặng nhẹ khác nhau (Nguyễn Anh Nghĩa và Vũ Thị Quỳnh Chi, 2011).3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Trước tình hình dịch bệnh này, tại Việt Nam cũng đã có một số hội thảo và tin tức trên các báo chí về bệnh rụng lá Corynespora trên cây cao su như: - Tháng 9/2010, tại Thủ Dầu Một, hội thảo “Phòng trừ bệnh rụng lá cao su do nấm Corynespora gây ra ở Việt Nam” được Cục Bảo vệ thực vật và Viện nghiên cứu Cao su Việt Nam phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Bình Dương tổ chức. SVTH: LÊ THANH QUỲNH NHƯ 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: NGUYỄN VĂN MINH - Ngày 15/09/2010 trên trang vietstock có bài “Cao su lảo đảo trong đại dịch”- “tính đến tháng 9-2010, toàn tỉnh Bình Phước hiện có hàng ngàn ha cao su bị nhiễm bệnh vàng rụng lá, theo Chi cục Bảo vệ Thực vật (BVTV) tỉnh, bệnh không loại trừ một huyện, thị xã nào trong toàn tỉnh và tập trung chủ yếu ở huyện Đồng Phú, Hớn Quản, mỗi huyện gần 1.Ước tính thiệt hại hàng trăm tỉ đồng”. - Ngày 24/10/2013, trên trang điện tử của sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bình Phướccó bài “Bệnh vàng rụng lá Corynespora trên cây cao su có chiều hướng diễn biến bất thường trong mùa mưa” - Ngày 20/07/2014, trên trang điện tử của sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bình Phước có bài “Bình Phước: Bệnh vàng rụng lá, nấm hồng trên cây cao su có xu hướng tăng” Giải pháp về bệnh rụng lá Corynespora hiện nay là dùng các chất hóa học.
Một số sản phẩm hoá học hiện đang được sử dụng như: thuốc thuộc gốc hexaconazole (Anvil 5SC, Hexin 5SC, Saizole 5SC, Vivil 5SC, Callihex 5SC,…); gốc carbendazim (Vicarben 50SC, Carbenzim 500FL, Carbenvil 50SC, Carban 50 SC, Benzimidin 50SC…); thuốc phối trộn gốc carbendazim và gốc hexaconazole (Vixazol 275SC, Hexado155SC, Arivit 250SC, Calivil 55SC, …). Việc sử dụng quá nhiều thuốc trị bệnh có nguồn gốc hóa học có thể dẫn đến suy thoái đất,dẫnđến hiện tượng kháng thuốc và không hiệu quả (Zhao và cs., 2010, Narayanan và Mydin, 2012). Hơn nữa do cây cao su có tán cao, việc phun xịt thuốc hoá học độc hại đem lại nhiều nguy hại cho sức khoẻ cho con người. Trong thực tế, khi bệnh rụng lá Corynespora xảy ra, người dân sử dụng hoá học để kiểm soát của nấm cũng cần phun xịt 3 lần liên tiếp mới có hiện tượng suy giảm và như vậy cây cao su cũng đã bị giảm năng suất.
Trong khi đó, phòng trừ sinh học hứa hẹn nhiều tiềm năng về lợi ích như có thể phòng ngừa và lẫn điều trị, là hướng giải pháp được khuyến khích phát triển hiện nay trên thế giới. SVTH: LÊ THANH QUỲNH NHƯ 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: NGUYỄN VĂN MINH Hiện nay, trên thế giới nghiên cứu phòng trừ sinh học bệnh rụng lá Corynespora trên cây cao su chưa có giải pháp nào được công bố. Các nhà khoa học trong và ngoài nước chỉ mới tập trung nghiên cứu về tình trạng của bệnh rụng lá Corynespora và nghiên cứu các giống cao su mới có khả năng kháng C.