Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về rủi ro tuân thủ thuế 2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro 2.1 Khái niệm rủi ro Bất cứ hoạt động nào cũng chứa đựng trong đó những rủi ro tiềm ẩn. Ví dụ: Hoạt động của tự nhiên như: mưa bão có thể gây ngập lụt; nắng lâu ngày có thể gây nên hạn hán ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Hoạt động của máy móc, thiết bị: vận hành lâu ngày có thể bị hư hỏng ngừng hoạt động. Hoạt động của con người: khi điều khiển phương tiện giao thông có thể gây tai nạn nếu không quan sát và chấp hành đúng quy định của pháp luật về giao thông.
Hoạt động quản lý của con người: sự phá sản của một công ty đa quốc gia có thể dẫn đến sự phá sản của nhiều công ty ở các quốc gia khác nhau, gây khủng hoảng tài chính ở nhiều nước. Hoạt động quản lý thuế: việc áp dụng một chính sách thuế phức tạp không bao quát hết nguồn thu dẫn đến thực hiện khó và thất thu; các qui trình quản lý thuế chưa qui định rõ ràng thì“sự phối hợp giữa các bộ phận liên quan sẽ làm hạn chế đến kết quả trong công tác quản lý thuế“. Rủi ro là một khái niệm có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau: Theo quan niệm truyền thống: rủi ro là những tổn thất có thể sẽ xảy ra trong tương lai, có thể phát sinh từ một số hoạt động ở hiện tại và thường được chứa đựng bên trong hoặc đi cùng với một sự kiện không mong muốn xảy ra. Ví dụ: Cơ quan thuế nếu không kiểm tra kịp thời các Doanh nghiệp (DN) sẽ bỏ trốn (tương lai rất gần) có thể gây thất thu thuế đây là rủi ro bên trong hành động; Khủng hoảng tài chính toàn cầu (ở hiện tại) có thể gây thiệt hại (trong tương lai rất gần), hậu quả của nó có thể rất nhiều công ty bị phá sản, đây là rủi ro chứa đựng bên trong một sự kiện không mong muốn xảy ra.
Theo quan điểm hiện đại: ISO/IEC Guide 73 hướng dẫn về quản lý rủi ro (2002) định nghĩa rủi ro là sự kết hợp khả năng xảy ra của một sự kiện và hệ quả của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong tất cả các hoạt động, luôn có mối tiềm ẩn đối với các sự kiện và hệ quả, tạo thành các cơ hội có lợi (mặt phải) hoặc đe dọa thành công (mặt trái) của rủi ro. Trong lĩnh vực hoạt động đặt ra mức độ an toàn, nhìn chung hệ quả do rủi ro tạo ra chỉ có tính bất lợi, vì vậy quản lý rủi ro trong lĩnh vực này thường tập trung vào việc phòng chống và giảm nhẹ tác hại mà rủi ro có thể gây ra. Quan điểm về quản lý thuế theo rủi ro này phù hợp với thực tế hiện nay.
Từ các quan điểm nêu trên, có thể khái niệm rủi ro như sau: Rủi ro là một sự kiện bình thường không thể tránh được trong cuộc sống hàng ngày. Rủi ro là một sự kiện có thể xảy ra làm ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến mục tiêu hoạt động của tổ chức, cá nhân. Hiểu biết về rủi ro và kiểm soát rủi ro là một phần quan trọng trong cuộc sống nhằm tránh tổn thất, đạt được lợi ích và tăng thu nhập.2 Phân loại rủi ro ISO/IEC Guide 73 hướng dẫn về quản lý rủi ro (2002) phân loại theo các nhóm rủi ro sau: Rủi ro chiến lược là những rủi ro phát sinh do tồn tại trong một ngành hoặc một khu vực địa lý. Rủi ro hoạt động là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực thi các qui trình, thủ tục nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của tổ chức.
Rủi ro tài chính là những rủi ro phát sinh từ cơ cấu tài chính của tổ chức, các giao dịch do bên thứ ba và các hệ thống tài chính hiện hành,. Rủi ro hiểm hoạ là những rủi ro nếu xảy ra thường xuyên sẽ tác động xấu đến môi trường sống, đến xã hội như: ô nhiễm, chiến tranh, tệ nạn xã hội,. Rủi ro tuân thủ: là những rủi ro bắt nguồn từ việc không tuân thủ luật, qui định và các thông lệ xã hội; nếu vi phạm sẽ gây ra hậu quả cho tổ chức, cho cộng đồng, xã hội như: vi phạm luật giao thông, tham nhũng, trốn thuế,. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đánh giá rủi ro ISO/IEC Guide 73 (2002) đánh giá theo rủi ro: khi quá trình phân tích theo rủi ro kết thúc, cần so sánh những rủi ro đã đạt được ước tính với những tiêu chí rủi ro mà tổ chức đã thiết lập.
Những tiêu chí về rủi ro này có thể bao gồm chi phí và lợi nhuận liên quan, các yêu cầu về luật pháp, các nhân tố môi trường và KTXH, sự quan tâm của các bên liên quan cùng hưởng lợi,… Vì vậy, đánh giá rủi ro được sử dụng để đưa ra các quyết định về những rủi ro trọng yếu đối với tổ chức và đối với từng rủi ro cụ thể nên chấp nhận hay xử lý.3 Kiểm soát rủi ro ISO/IEC Guide 73 (2002) xử lý rủi ro: là quy trình lựa chọn và áp dụng các biện pháp thay đổi rủi ro. Xử lý rủi ro bao gồm nhân tố chính là kiểm soát / hạn chế rủi ro. Bất kỳ hệ thống xử lý rủi ro nào tối thiểu cũng phải đạt được: - Hoạt động của đơn vị có hiệu lực và hiệu quả. - Hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả.
- Tính tuân thủ pháp luật. Theo đó việc nhận dạng các rủi ro cần có sự quan tâm của cấp quản lý, quy trình phân tích rủi ro giúp cho hoạt động của tổ chức đạt được hiệu lực và hiệu quả. Ban lãnh đạo cần sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các hoạt động kiểm soát rủi ro theo góc độ tiềm năng có ích cho đơn vị. Tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ là mức độ mà rủi ro sẽ bị loại bỏ hoặc sẽ bị hạn chế nhờ các biện pháp quản lý được đề xuất.
Hiệu quả chi phí của hệ thống kiểm soát nội bộ được xác định trên các cơ sở so sánh chi phí thực hiện việc kiểm soát với lợi ích ước tính thu được từ hạn chế rủi ro. Các biện pháp quản lý đề ra phải được cân nhắc về tác động kinh tế tiềm tàng trong từng trường hợp không có biện pháp xử lý và chi phí thực hiện các biện pháp dự kiến trong trường hợp có thực hiện theo các biện pháp đó. Chi phí thực hiện phải được tính toán chính xác bởi vì nó trở thành ranh giới để xác định tính hiệu quả. Nếu không có biện pháp xử lý thì những thất thoát có thể xảy ra sẽ phải được ước tính và thông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 qua việc so sánh các kết quả, Ban lãnh đạo có thể quyết định nên thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro hay không.
Việc tuân thủ luật pháp là điều bắt buộc. Mỗi tổ chức cần phải hiểu các luật lệ có thể áp dụng được và phải triển khai một hệ thống kiểm soát nhằm đạt được sự tuân thủ pháp luật.4 Lý thuyết tuân thủ thuế Devos, Ken. (2013) trong những năm 1980, hành vi trốn thuế và không tuân thủ đã trở nên phổ biến sau những lo ngại chính trị ở Hoa Kỳ về thất thu thuế ngày càng tăng. Ban đầu, tài liệu xuất hiện từ Hoa Kỳ tập trung mạnh vào lý thuyết kinh tế.
Lý thuyết tiện ích, được phát triển bởi Allingham và Sandmo, người nộp thuế giả định là tối đa hóa lợi ích trong các báo cáo thuế và tuân thủ thuế, trong đó trốn thuế được coi là phổ biến nếu lợi nhuận vượt xa chi phí tài chính. Các nghiên cứu tuân thủ thuế đã dựa trên các lý thuyết xã hội và tâm lý. Các nghiên cứu trước đó trong lĩnh vực này đã lập luận rằng yếu tố con người đóng vai trò quan trọng về tính tuân thủ của người nộp thuế. Tuy nhiên, trong các tài liệu tuân thủ thuế xuất hiện từ nhiều lĩnh vực khác nhau, đã có nhiều ý kiến về lý do tại sao nhiều người nộp thuế không tuân thủ.
Thật vậy, chính sách về tuân thủ thuế chỉ ra rằng vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được hoàn thiện liên quan đến đạo đức thuế, công bằng thuế và các biện pháp răn đe, để cải thiện khả năng tuân thủ thuế. Các cách tiếp cận lý thuyết về tuân thủ thuế thường được chia thành phương pháp tiếp cận răn đe kinh tế, cách tiếp cận rộng hơn kết hợp cả phương pháp tâm lý xã hội và tài khóa. Mô hình răn đe kinh tế đã được sử dụng phổ biến để kiểm tra hành vi trốn thuế và tuân thủ từ góc độ lý thuyết. Các yếu tố đã được kiểm tra trong mô hình răn đe kinh tế bao gồm: • Sự phức tạp của hệ thống thuế • Chi phí dịch vụ kê khai thuế • Mức độ trung thực trong báo cáo thuế • Trách nhiệm và hình phạt • Xác suất nhận được bảo hiểm kiểm toán TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 • Mức thuế lũy tiến và thực tế • Hình phạt cho việc không tuân thủ.
Mặc dù số lượng các yếu tố đã được kiểm tra theo mô hình này, công trình đầu tiên của Jackson và Milliron cho thấy rằng không có sự đồng nhất về bất kỳ một trong những yếu tố này, từ đó cho thấy mối quan hệ tích cực với việc tuân thủ thuế của NNT. Mặt khác, mô hình tâm lý xã hội / tài khóa tập trung vào các biến số logic tâm lý bao gồm các giá trị đạo đức và nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế và cơ quan thuế. Cách tiếp cận này thường được sử dụng trong thực nghiệm nghiên cứu. Phần còn lại tiến hành phác thảo các yếu tố và đặc tính của hai mô hình và các nghiên cứu khác nhau đã được sử dụng.1 Mô hình răn đe kinh tế Devos, Ken.
(2013) các mô hình dựa trên lý thuyết kinh tế về tuân thủ thường tập trung vào tính răn đe. Răn đe có thể đạt được thông qua một số cách tiếp cận, trừng phạt và thuyết phục. Nghĩa là, răn đe có thể có hình thức tăng nặng với nhiều vi phạm, tăng thuế suất hoặc áp dụng hình phạt cao hơn. Ngoài ra, có thể tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ khuyến khích người nộp thuế tuân thủ.