Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng đối với khách hàng tại Ngân Hàng VPBank Chi nhánh Sài Gòn. Chương 3: Những giải pháp nhằm năng cao tính hữu hiệu hoạt động kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng đối với khách hàng tại Ngân Hàng VPBank Chi nhánh Sài Gòn. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo thời gian đã thỏa thuận. Theo thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN của Ngân Hàng Nhà Nƣớc tại khoản 1 điều 2, định nghĩa về cấp tín dụng nhƣ sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.2 Ý nghĩa hoạt động tín dụng đối với ngân hàng Hoạt động tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng.
Hầu hết, các ngân hàng lâm vào tình trạng tài chính khó khăn nghiêm trọng hoặc phá sản thì nguyên nhân thƣờng phát sinh từ hoạt động tín dụng 1.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tƣợng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau: cho vay ngắn hạn, Cho vay trung hạn, Cho vay dài hạn, Tín dụng không có bảo đảm, Tín dụng có bảo đảm, Tín dụng bất động sản, Tín dụng công thƣơng nghiệp, Tín dụng nông nghiệp, Tín dụng cá nhân, Tín dụng cho các tổ chức tài chính, Cho thuê tài chính, Tín dụng khác, bao gồm các khoản tín dụng khác chƣa đƣợc phân loại ở trên (nhƣ tín dụng kinh doanh chứng khoán. 8 Mỗi loại tín dụng đáp ứng một yêu cầu khác nhau, với các điều kiện thực hiện khác nhau Chính vì lẽ đó, hoạt động tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, đa dạng hóa các hình thức cho vay là một trong những biện pháp nhằm hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.4 Rủi ro tín dụng Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi ngƣời vay không trả nợ đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ gốc và lãi. Đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan.
Sự khách quan trong rủi ro tín dụng làm cho nó trở nên không thể loại trừ. Mặt khác, bởi lợi nhuận phần nào cũng là một phần thƣởng của rủi ro nên ngƣời ta chỉ tìm cách hạn chế rủi ro tới mức có thể chấp nhận đƣợc mà thôi. Do đó cần phải có biện pháp giải quyết và phƣơng án dự phòng hữu hiệu, nhƣ: xây dựng các chính sách tín dụng, xây dựng quy trình phân tích và thu thập thông tin tín dụng, hệ thống phân loại xếp hạng khách hàng, đào tạo và luân chuyển cán bộ tín dụng, … gọi chung là xây dựng một hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ hiệu quả.2 Những vấn đề cơ bản về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về Kiểm soát nội bộ: Theo Ủy ban hội đồng các tổ chức phi quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trong lập báo cáo tài chính (Committee of Sponsoring Orgnizations of the treadway commission- COSO) : “Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ chính sách, thủ tục đƣợc thực hiện bởi Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác. Quy trình này đƣợc thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt đƣợc các mục tiêu 9 hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động, độ tin cậy của báo cáo tài chính, tuân thủ pháp luật và các quy định.” Theo quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC): Theo quan niệm này thì “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phƣơng pháp, các bƣớc công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trợ giúp cho nhà quản lý đạt đƣợc mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý, bảo đảm hiệu quả của các hoạt động” Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thƣờng xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đề ra của đơn vị. • Bảo vệ tài sản của đơn vị: Tài sản của đơn vị đƣợc bảo vệ bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình và các tài sản phi vật chất khác nhƣ sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng… của doanh nghiệp. • Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: Thông tin muốn nói ở đây chính là thông tin kinh tế tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp. Thông tin này cần đƣợc bảo đảm độ tin cậy bởi vì nó là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý.
Các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế tài chính. • Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý 1 Hệ thống kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đƣợc tuân thủ đúng mức. • Bảo đảm hiệu quả của các hoạt động và năng lực quản lý Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị đƣợc thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Theo quan điểm của các kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) Các định nghĩa của viện kế toán viên công chứng (AICPA) ở Mỹ về Kiểm soát nội bộ liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể.
Trong phần thực hành Kiểm toán Kiểm soát nội bộ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả những phƣơng pháp, biện pháp phối hợp và đo lƣờng đƣợc thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của các thông tin kế toán, tăng cƣờng tính hiệu quả của hoạt động và khích lệ bám sát những chủ trƣơng quản lý đã đề ra” Theo quan niệm này thì kiểm soát nội bộ cũng có xu hƣớng thiên về phục vụ các mục tiêu của doanh nghiệp gần với quan niệm của liên đoàn kế toán quốc tế. Theo quan điểm của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA315) Kiểm soát nội bộ: Là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Thuật ngữ “kiểm soát” đƣợc hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ. 1 Các thành phần của kiểm soát nội bộ bao gồm: môi trƣờng kiểm soát, quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị, các hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, hệ thống giám sát và thẩm định.
Khi thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ ở đơn vị, các nhà quản lý thƣờng quan tâm đến những khía cạnh chủ yếu sau: • Nhằm bảo vệ tài sản, sổ sách và thông tin của đơn vị • Nhằm thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật • Nhằm tăng cƣờng tính hiệu lực, hiệu quả về mặt điều hành và sử dụng các nguồn lực trong đơn vị • Nhằm cung cấp thông tin đáng tin cậy và lập báo cáo tài chính trung thực hợp lý. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Mục tiêu hiệu quả và hiệu năng hoạt động là sử dụng nguồn lực hiện có một cách hiệu quả nhất. Hiệu quả trong kiểm soát nội bộ đó là việc tối ƣu hóa các quy trình nhằm đơn giản các quy trình tác nghiệp hoặc giảm tối đa các hoạt động không cần thiết gây hao tốn nguồn lực mà vẫn đảm bảo đƣợc hiệu quả, năng suất.
Hiệu quả năng suẩt của đơn vị đƣợc đánh gía qua cơ sở vật chất, thủ tục, nguồn nhân viên và quá trình hoạt động của các bộ phận 2. Mục tiêu thông tin là độ tin cậy, tính hoàn thiện và cập nhật của thông tin tài chính và quản lý Các quyết định của nhà quản lý đƣợc hình thành dựa trên cở sở thông tin từ bộ máy kế toán xử lý. Các thông tin sổ sách kế toán, các phân tích báo cáo tài chính đƣợc cung cấp kịp thời và chính xác sẽ phản ánh đúng về thực trạng của đơn vị. dựa trên những kết quả này, nhà quản lý sẽ đƣa ra những quyết định phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể 1 3.
Mục tiêu tuân thủ là đảm bảo mọi hoạt động của ngân hàng đều tuân thủ: Các quy định của pháp luật, NHNN, các yêu cầu về giám sát; Các chính sách, quy trình nghiệp vụ nội bộ do chính ngân hàng thiết lập. Công tác kiểm soát nội bộ đƣợc thực hiện phải đƣợc giám sát bởi các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị, bên cạnh đó cũng phải đảm bảo quy trình nội bộ do ngân hàng thiết lập.