CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ CHỨC NĂNG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Cơ sở lý luận về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân Tư pháp và quyền tư pháp: Theo thuyết tam quyền phân lập, tư pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước bao gồm: lập pháp (làm pháp luật, ban hành pháp luật); hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp luật, xử lý các việc vi phạm pháp luật). Theo quan điểm của nhà nước Việt Nam, tư pháp chỉ công việc tổ chức giữ gìn, bảo vệ pháp luật.
Ở các nước thực hiện nguyên tắc phân quyền, tư pháp được hiểu là quyền tư pháp, đồng nghĩa với quyền xét xử chỉ do tòa án thực hiện. Vì vậy, ở các nước này, nói đến cơ quan tư pháp tức là nói đến tòa án. Ở Việt Nam, quyền tư pháp được thực hiện thông qua TAND theo Hiến pháp, với vai trò là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hiện nay, theo tinh thần cải cách tư pháp, cũng có quan điểm cho rằng trách nhiệm thực hiện quyền tư pháp không chỉ có Tòa án mà còn có các cơ quan khác trong bộ máy tư pháp của Việt Nam bao gồm Cơ quan điều tra, VKSND cùng các cơ quan khác.
Tác giả không đồng tình với quan điểm cho rằng chỉ TAND là cơ quan có quyền tư pháp, vì khi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thể tách rời hoạt động tư pháp với hoạt động xét xử. Để thực hiện quyền tư pháp cần đảm bảo một loạt các hoạt động liên quan, trong đó có hoạt động xét xử. Cơ quan tư pháp: Trên cơ sở Hiến pháp và các luật liên quan thì chỉ có tên gọi “cơ quan thực hiện quyền tư pháp” mà không có tên cơ quan nào là “cơ quan tư pháp”. Việc xác 7 định cơ quan tư pháp hiện nay dựa vào văn kiện của Đảng là chủ yếu.
Chính vì chưa có điều luật quy định cụ thể nên có nhiều quan điểm khác nhau làm ảnh hưởng đến nhận thức về những vấn đề chung, quan trọng trong xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Có thể khẳng định Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, tức là cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và cơ quan Thi hành án có phải là cơ quan tư pháp không và còn có cơ quan nào khác được xem là cơ quan tư pháp? Ý kiến thứ nhất cho rằng, các cơ quan tư pháp của Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013 bao gồm: Tòa án nhân dân, VKSND, Cơ quan điều tra (bao gồm Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, của Quân đội nhân dân và của VKSND tối cao), cơ quan Thi hành án (thi hành án hình sự và thi hành án dân sự), Luật sư, giám định tư pháp, công chứng và trợ giúp pháp lý. Ý kiến thứ hai cho rằng, hiện nay không chỉ Tòa án mà còn có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và cơ quan Thi hành án trong hệ thống tư pháp Việt Nam.
Từ đó có thể thấy rằng, không có định nghĩa rõ ràng về việc xác định các cơ quan thuộc lĩnh vực tư pháp trong Hiến pháp và các văn bản chỉ đạo. Theo tác giả, việc thiết lập một chương riêng trong Hiến pháp để quy định về cơ quan tư pháp là cần thiết. Hoạt động tư pháp: Vấn đề còn nhiều quan điểm chưa thống nhất là: Hoạt động tư pháp chỉ là hoạt động trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan tư pháp nêu trên hay còn của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác? Không chỉ của TAND mà còn của các cơ quan khác như VKSND, Cơ quan điều tra, cơ quan Thi hành án, cũng như nhiều cơ quan khác khi thực hiện nhiệm vụ liên quan đến hoạt động ở các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thủ tục phá sản, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, thi hành tạm giữ, tạm giam, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án và việc khác mà pháp luật quy định. 8 Do đó, theo tác giả, nội dung hoạt động tư pháp cần được quy định cụ thể là do chủ thể nào thực hiện, để từ đó xác định hoạt động tư pháp có phải chỉ của các cơ quan tư pháp hay do mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện trong lĩnh vực giải quyết vụ án.
Chức năng kiểm kiểm sát hoạt động tư pháp: Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thực hiện bởi Viện kiểm sát nhân dân nhằm mục đích bảo vệ pháp chế, chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín, danh dự và nhân phẩm của công dân; đồng thời đảm bảo rằng mọi hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân sẽ được xử lý theo quy định pháp luật. Trong cấu trúc tổ chức của các cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân được coi là một cơ cấu thiết yếu trong hệ thống Nhà nước xã hội chủ nghĩa và có vai trò quan trọng. Chức năng giám sát việc tuân thủ pháp luật đã được quy định để đảm bảo tính bắt buộc và thống nhất trong việc thi hành pháp luật. Về bản chất, điều này biểu hiện cho việc kiểm soát quyền lực trong cấu trúc Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cho thấy, từ khi Viện kiểm sát không thực hiện kiểm sát chung, nhiều quy định pháp luật được ban hành chưa đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý, nhiều khiếu nại, tố cáo xảy ra ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của văn bản quy phạm pháp luật; tính toàn diện, thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật còn nhiều hạn chế. Nói cách khác, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội chưa được pháp luật điều chỉnh, việc ban hành văn bản pháp luật còn thiếu sự kiểm tra. Như vậy, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một nhiệm vụ quan trọng mà VKSND thực hiện theo quy định của pháp luật để đảm bảo sự chính xác và công bằng trong các quyết định của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động tư pháp. VKSND tổng hợp các quyền hạn pháp lý để kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các hành vi và quyết định, nhằm bảo vệ cho việc thực thi hoạt động tư pháp diễn ra theo đúng các quy định của pháp luật.
Đặc điểm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân Thứ nhất, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND do những người có thẩm quyền (Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên) tiến hành. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, VKSND là cơ quan duy nhất có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Thông qua việc thực hiện hoạt động này, Viện kiểm sát góp phần thực hiện quyền lực Nhà nước, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời mọi hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Thứ hai, thực hiện pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong các lĩnh vực cụ thể luôn yêu cầu phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục chặt chẽ. Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng phải được thực hiện đúng, đầy đủ, khách quan. Chính vì thế, pháp luật đã quy định hết sức chặt chẽ hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp về trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND phải được tiến hành theo thủ tục chặt chẽ để áp dụng các quy phạm vào từng tình huống cụ thể.
Việc tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục được pháp luật quy định (quy phạm luật hình thức) là yêu cầu bắt buộc và là tiền đề đối với việc thực hiện các quy phạm nội dung. Thứ ba, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND chỉ được tiến hành trong phạm vi hoạt động tố tụng của tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Thứ tư, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND là hoạt động đòi hỏi sự sáng tạo, nhạy bén, linh hoạt của từng chủ thể có thẩm quyền. Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát đối với mỗi vụ án, sự việc cụ thể đều có sắc thái riêng biệt, thích hợp với mỗi điều kiện, hoàn cảnh và đặc trưng cá nhân của từng con người cụ thể.
Sự 10 phong phú của thực tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp không chỉ có ở những sự việc cụ thể, đối với từng vụ việc cụ thể mà còn ở mỗi Kiểm sát viên. Mặc dù quy phạm pháp luật luôn luôn mang tính khuôn mẫu chung, các tiêu chuẩn, quyền, trách nhiệm của Kiểm sát viên cũng là những quy định chung, thống nhất, nhưng trình độ, năng lực, kỹ năng thực hiện pháp luật ở mỗi Kiểm sát viên lại không giống nhau. Cùng một trường hợp phạm tội cụ thể nhưng cách nhìn nhận, đánh giá ở mỗi Kiểm sát viên lại khác nhau, dẫn đến kết quả giải quyết có thể không giống nhau. Do đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp mang dấu ấn chủ quan, cá nhân của mỗi Kiểm sát viên khá sâu sắc.