CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. Kiểm soát đường huyết và tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết 1. Chỉ số HbA1c HbA1c được hình thành do sự kết hợp giữa glucose và gốc NH2 của valine ở đầu tận của chuỗi betaglobin của huyết sắc tố, phản ứng này không cần men và được gọi là phản ứng glycosyl hóa (glycosylation). Tốc độ glycosyl hóa của huyết sắc tố tùy thuộc nồng độ glucose trong máu và HbA1c tồn tại trong suốt đời sống của hồng cầu (khoảng 120 ngày).
Hồng cầu mới hình thành không chứa HbA1c và hồng cầu sắp bị đào thải chứa nhiều HbA1c nhất. HbA1c có mối tương quan khá chặt với nồng độ glucose máu lúc đói [6]. Có nghĩa là kiểm soát tốt glucose máu sẽ làm giảm chỉ số HbA1c. Trong vòng 2 tháng nếu nồng độ glucose máu tăng cao thì hàm lượng HbA1c có thể tăng lên đến 12-18%.
Khi HbA1c tăng 1%, glucose máu trung bình sẽ tăng khoảng 29mg/dl. Người bệnh chỉ cần thay đối chế độ ăn trong một vài ngày đã có thể giảm đường huyết, nhưng HbA1c chỉ giảm khi bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình 2 tháng. Vì vậy, HbA1c là chỉ số trung thực nhất để đánh giá kết quả điều trị, tiên lượng biến chứng vì biến chứng là kết quả của cả một quá trình diễn biến kéo dài, còn theo dõi đường máu lúc đói cho biết lượng đường trong máu ngay tại thời điểm xét nghiệm. Ưu điểm của xét nghiệm HbA1c là có thể được thực hiện mà không cần nhịn đói và kết quả phản ánh mức độ glucose máu trung bình trong 2 tháng gần nhất.
Theo quyết định của Bộ Y tế về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường tuýp 2” (2017), sử dụng chỉ số globulin màng (HbA1c) để đánh giá mức độ KSĐH của bệnh nhân ĐTĐ. Bệnh nhân là người trưởng thành, không có thai: KSĐH tốt khi HbA1c <7,0%, glucose máu lúc đói <7,2mmol/l [2]. So với chỉ số HbA1c, chỉ số gluocse máu lúc đói là xét nghiện được thực hiện thường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 4 xuyên ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 vì chi phí phù hợp. Việc dựa vào chỉ số glucose máu lúc đói để đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết có ưu điểm là có thể làm xét nghiệm tại thời điểm thu thập số liệu để đánh giá bệnh nhân KSĐH tốt hay không tốt.
Tuy nhiên, nó có nhược điểm là glucose máu lúc đói dễ dàng bị thay đổi do tác động của chế độ ăn uống. Do vậy, sẽ không phản ánh được đầy đủ việc KSĐH của đối tượng nghiên cứu. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng chỉ số HbA1c để đánh giá mức độ KSĐH và các yếu tố liên quan đến KSĐH của đối tượng nghiên cứu. Tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết Bệnh đái tháo đường có thể gây ra nhiều biến chứng khác nhau.
Theo nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009), biến chứng tim mạch là hay gặp nhất ở bệnh nhân ĐTĐ chiếm 42,8%, tiếp theo là biến chứng tại thận với tỷ lệ 39,6%, ngoài ra còn một số biến chứng khác như biến chứng tại mắt, thần kinh, hô hấp và da [4]. Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) cũng cho thấy biến chứng tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất ở bệnh nhân ĐTĐ (18,7%), biến chứng tại mắt (18,3%), tại thận (16,4%) [7]. Việc KSĐH tốt sẽ giúp ngăn ngừa sự phát sinh và tiến triển của các biến chứng này. Theo nghiên cứu của Stratton và cộng sự (2000), cứ giảm 1% HbA1c (chỉ số đường huyết trung bình trong vòng 2-3 tháng) sẽ giúp giảm nguy cơ biến chứng dài hạn, cụ thể: - Giảm 43% biến chứng cắt cụt chi hoặc tử vong do bệnh mạch máu ngoại vi.
- Giảm 37% biến chứng mạch máu nhỏ (bệnh thận và mù). - Giảm 21% tử vong do ĐTĐ. - Giảm 14% biến chứng tim mạch. - Giảm 12% đột quỵ [49].
Như vậy, việc KSĐH ở mức tối ưu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bệnh nhân ĐTĐ. Và nhiệm vụ của nghành Y tế nói chung, của những cán bộ y Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 5 tế tại tuyến y tế cơ sở nói riêng là làm như thế nào để giúp bệnh nhân ĐTĐ có thể thực hiện những hành vi tốt trong việc KSĐH tại cộng đồng. Biện pháp kiểm soát đường huyết Kiểm soát đường huyết là việc bệnh nhân ĐTĐ áp dụng các biện pháp giúp đường huyết duy trì ổn định theo mục tiêu điều trị ở bệnh nhân ĐTĐ. Mục tiêu điều trị cần đạt ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 là chỉ số HbA1c <7,0%, glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn là 80-130mmol/l (4,4-7,2mmol/l), đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ là <180mg/dl (10,0mmol/l) [2].
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ tuýp 2 năm 2017, để duy trì đường huyết ổn định, tăng cường hiệu quả điều trị bệnh giúp cho việc KSĐH được tốt thì bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 cần phải thực hiện đồng thời các nội dung sau: 1. Thay đổi lối sống Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 bao gồm luyện tập thể lực và chế độ dinh dưỡng: * Luyện tập thể lực Việc luyện tập thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ có vai trò quan trọng đặc biệt đối với những bệnh nhân có tình trạng thừa cân, béo phì. Vận động thể lực sẽ giúp cân nặng của bệnh nhân trở về mức bình thường. - Khi hướng dẫn bệnh nhân ĐTĐ luyện tập thể lực, trước tiên cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tập và đo huyết áp, tần số tim.
Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết > 250-270 mg/dL và ceton dương tính. - Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất đối với bệnh nhân ĐTĐ là đi bộ 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện tập 2 ngày liên tiếp. Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ) tùy tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 6 - Người già, đau khớp có thể chia bài tập thành nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút.
Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần. * Chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng cần được áp dụng mềm dẻo theo thói quen ăn uống của bệnh nhân, và tùy vào các thức ăn sẵn có tại từng vùng miền. Tốt nhất nên có tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng. Chi tiết về dinh dưỡng sẽ được thiết lập cho từng bệnh nhân tùy tình trạng bệnh, loại hình hoạt động, các bệnh lý, biến chứng đi kèm.
Các nguyên tắc chung về dinh dưỡng được khuyến cáo cho mọi bệnh nhân ĐTĐ bao gồm: - Bệnh nhân béo phì, thừa cân cần giảm cân, ít nhất 3-7% so với cân nặng hiện tại. - Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm có nhiều chất xơ, không chà xát kỹ như gạo lứt, bánh mì đen, nui còn chứa nhiều chất xơ. - Đạm khoảng 1-1,5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy chức năng thận. Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần.
Người ăn chay kéo dài có thể bổ sung nguồn đạm từ các loại đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ). - Nên chú trọng dùng các loại mỡ có chứa acid béo không no một nối đôi hoặc nhiều nối đôi như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá. Cần tránh các loại mỡ trung chuyển (mỡ trans), phát sinh khi ăn thức ăn rán, chiên ngập dầu mỡ. - Giảm muối trong bữa ăn, còn khoảng 2300 mg Natri mỗi ngày.
- Chất xơ ít nhất 15 gam mỗi ngày, nên sử dụng chất xơ từ các loại rau, quả ít ngọt. - Các yếu tố vi lượng: nên chú ý bổ sung các yếu tố vi lượng nếu thiếu, thí dụ sắt ở bệnh nhân ăn chay kéo dài. Dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu sinh tố B12, nên chú ý đến tình trạng này nếu bệnh nhân có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 7 - Uống rượu điều độ: một lon bia (330 ml)/ngày, rượu vang đỏ khoảng 150-200ml/ngày.
- Ngưng hút thuốc. - Các chất tạo vị ngọt: như đường bắp, aspartame, saccharin có nhiều bằng chứng trái ngược. Do đó nếu sử dụng cũng cần hạn chế đến mức tối thiểu. Điều trị đái tháo đường bằng thuốc - Các nhóm thuốc hạ glucose huyết đường uống và thuốc dạng tiêm không thuộc nhóm insulin.
- Insulin: Insulin được sử dụng ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 1 và cả ĐTĐ tuýp 2 khi có triệu chứng thiếu insulin hoặc không kiểm soát được glucose máu dù đã ăn uống luyện tập và phối hợp nhiều loại thuốc viên theo đúng chỉ dẫn. Ngoài ra ĐTĐ tuýp 2 khi mới chẩn đoán nếu glucose máu tăng rất cao cũng có thể dùng insulin để ổn định glucose máu, sau đó sẽ dùng các loại thuốc điều trị tăng glucose máu khác. Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới Theo hướng dẫn điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh nhân cần phải thay đối lối sống bao gồm vận động thể lực và dinh dưỡng kết hợp với tuân thủ chế độ thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ [2].
Kiểm soát đường huyết tốt (HbA1c <7,0% và glucose máu lúc đói 4,7-7,2mmol/l) là một trong những mục tiêu điều trị của bệnh ĐTĐ. Thực tế, KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ là một vấn đề đang ngày càng được quan tâm trên thế giới vì tỷ lệ KSĐH tốt còn thấp mặc dù đã có những hướng dẫn và khuyến cáo cập nhật hàng năm. Theo dữ liệu điều tra quốc gia về dinh dưỡng và sức khỏe của Mỹ, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ đạt HbA1c <7,0% trong thập kỷ qua không được cải thiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 8 Chỉ có khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ tuýp 1 hoặc tuýp 2 trong dân số đạt được HbA1c <7,0% trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2014 [48].
Deborah Taira Juarez và cộng sự (2012), nghiên cứu về sự thay đổi mức độ KSĐH trên bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 ở Isfahan, Iran từ năm 2006 đến năm 2009 cho thấy trong khoảng thời gian đó KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 chưa được cải thiện, tỷ lệ bệnh nhân KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,0%) ở lần khám gần nhất chiếm 64,4% [71].