CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản 1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Vốn đầu tư XDCB là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia.
Dưới giác độ là một nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư XDCB cũng như các nguồn vốn khác- đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho hoạt động đầu tư, nghĩa là bao gồm toàn bộ chi phí đầu tư. Theo Luật Đầu tư công (2019): Vốn đầu tư công gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. Phân loại * Phân loại theo nguồn vốn - Vốn trong nước: Vốn NSNN dành để chi cho đầu tư phát triển, chủ yếu để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước và các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật. - Vốn ngoài nước: chủ yếu là vốn viện trợ phát triển chính thức ODA.
Là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của chính phủ hoặc của các tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển theo 2 phương thức: viện 8 trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại (tín dụng ưu đãi). * Phân loại theo tính chất đầu tư kết hợp nguồn vốn đầu tư - Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách tập trung: Là vốn đầu tư cho các dự án bằng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN do các cơ quan trung ương và địa phương quản lý. - Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư: là vốn NSNN thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế mang tính chất đầu tư như duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình giao thông, nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp và các chương trình quốc gia, dự án nhà nước. * Phân loại theo cấp ngân sách - Vốn đầu tư thuộc ngân sách trung ương: là vốn đầu tư thuộc NSNN do các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quản lý.
- Vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương: là vốn đầu tư thuộc NSNN do các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lý. Đặc điểm Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn đầu tư XDCB từ ngân sách gắn với hoạt động NSNN nói chung và hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về chi NSNN cho đầu tư phát triển. Do đó việc hình thành, phân phối, sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ, theo luật định, được Quốc hội phê chuẩn và các cấp chính quyền (chủ yếu là Hội đồng nhân dân tỉnh) phê duyệt hàng năm. Thứ hai, vốn đầu tư XDCB được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo 9 đối tượng sử dụng theo quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công và các luật khác.
Do đó việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Thứ ba, vốn đầu tư XDCB gắn với các quy trình đầu tư và dự án, chương trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đầu tư, nghiệm thu dự án và đưa vào sử dụng. Việc sử dụng nguồn vốn này gắn với quá trình thực hiện và quản lý dự án đầu tư với các khâu liên hoàn đến nhau từ khâu quy hoạch, khảo sát, chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án, kết thúc dự án. Các dự án này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như: - Các dự án về điều tra, khảo sát để lập quy hoạch như các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, ngành, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn, quy hoạch ngành được chính phủ cho phép.
- Dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội như đường giao thông, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát nước. - Dự án cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển một số ngành nghề, lĩnh vực hay sản phẩm. - Dự án hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật. Thứ tư, vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng.
Căn cứ tính chất, nội dung, đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình đầu tư XDCB mà người ta phân thành các loại vốn như: vốn để chuẩn bị đầu tư, vốn thực hiện đầu tư. Vốn đầu tư XDCB có thể được sử dụng cho đầu tư mới hoặc sửa chữa lớn; xây dựng kết cấu hạ tầng hoặc mua sắm thiết bị. Thứ năm, nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB bao gồm cả nguồn bên trong quốc gia và bên ngoài quốc gia. Các nguồn bên trong quốc gia chủ yếu là từ thuế và các nguồn thu khác của Nhà nước như bán tài nguyên, cho thuê 10 tài sản quốc gia, thu từ các hoạt động kinh doanh khác, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.
Nguồn từ bên ngoài chủ yếu từ nguồn vay nuớc ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và một số nguồn khác. Thứ sáu, chủ thể sử dụng vốn đầu tu XDCB rất đa dạng, bao gồm cả các cơ quan nhà nuớc và các tổ chức ngoài nhà nuớc, nhung trong đó đối tuợng sử dụng nguồn vốn này chủ yếu vẫn là các tổ chức nhà nuớc. Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Trong nền kinh tế quốc dân, vốn đầu tu XDCB từ NSNN có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: Một là, vốn đầu tu từ NSNN góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nuớc, nhu giao thông, thủy lợi, điện, truờng học, trạm y tế,.
Thông qua việc duy trì và phát triển hoạt động đầu tu XDCB, vốn đầu tu XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cuờng năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội. Hai là, vốn đầu tu từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cuờng chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội. Chẳng hạn để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo huớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, Nhà nuớc chủ truơng tập trung vốn đầu tu vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm mũi nhọn nhu công nghiệp dầu khí, hàng không, hàng hải, đặc biệt là giao thông vận tải đuờng bộ, đuờng sắt cao tốc, đầu tu vào một số ngành công nghệ cao,. Thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng để tạo môi truờng thuận lợi, tạo sự lan tỏa đầu tu và phát triển kinh doanh, thúc đẩy phát triển xã hội.
Ba là, vốn đầu tu XDCB từ NSNN có vai trò định huớng hoạt động đầu 11 tư trong nền kinh tế. Việc Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng và các ngành lĩnh vực có tính chiến lược không những có vai trò dẫn dắt hoạt động đầu tư trong nền kinh tế mà còn góp phần định hướng hoạt động của nền kinh tế. Thông qua đầu tư XDCB vào các ngành, các lĩnh vực, khu vực quan trọng, vốn đầu tư từ NSNN có tác dụng kích thích các chủ thể kinh tế, các lực lượng trong xã hội đầu tư phát triển và sản xuất kinh doanh, tham gia liên kết và hợp tác trong xây dựng hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội. Trên thực tế, gắn với việc phát triển hệ thống điện, đường giao thông là sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, thương mại, các cơ sở kinh doanh và khu dân cư.
Bốn là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, phát triển vung sâu, vùng xa. Thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các công trình văn hoá xã hội góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa. Tổng quan về kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản Kiểm soát có nghĩa là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.
Chủ thể trong vai trò kiểm soát có thể sử dụng những công cụ nhất định để thực hiện công tác này, các công cụ để kiểm soát có thể là những công cụ về luật pháp, cưỡng chế; các công cụ về hành chính, thủ tục, giấy tờ, hồ sơ. Kiểm soát được thực hiện trong mọi mặt của một nền kinh tế, từ các hoạt động trong doanh nghiệp tới các hoạt động trong nền kinh tế. Trong mối quan hệ giữa các cá nhân với tổ chức hay doanh nghiệp thì kiểm soát đóng vai trò như là một công cụ để đánh giá các hoạt động của con người trong một tổ chức, dựa trên quá trình giám sát chặt chẽ trong từng khâu của quá trình sản xuất.