phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận về kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc qua hệ thống Kho bạc Nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nƣớc qua Kho bạc Nhà nƣớc Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc qua Kho bạc Nhà nƣớc Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. Cơ sở lý luận về chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc 1. Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ĐTXDCB nói chung và ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN có những đặc điểm nhƣ sau: Một là, ĐT XDCB là khoản chi rất khó xác định chính xác vì không có một khung chi phí chung cho tất cả các dự án; sản phẩm ĐT XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình; nơi đầu tƣ xây dựng công trình cũng chính là nơi đƣa công trình vào khai thác sử dụng; sản phẩm XDCB chủ yếu đƣợc sản xuất theo đơn đặt hàng. Do tính chất không thể di chuyển của sản phẩm ĐT XDCB cho nên yếu tố khí hậu, thổ nhƣỡng, thời tiết… ở những địa điểm khác nhau ảnh hƣởng đến chi phí thực hiện dự án ĐTXDCB cũng khác nhau.
Vì vậy, quản lý đầu tƣ xây dựng các công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tƣ xây dựng công trình đƣợc xác định và phê duyệt trƣớc khi thực hiện đầu tƣ xây dựng công trình. Hai là, do quá trình ĐT XDCB bao gồm rất nhiều khâu, sản phẩm ĐT XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình có một thiết kế và dự toán riêng tuỳ thuộc vào mục đích đầu tƣ và điều kiện địa hình, địa chất. của nơi đầu tƣ xây dựng công trình, quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô và kết cấu khối lƣợng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công. và dự toán chi phí đầu tƣ của từng hạng mục công trình, tính chất công việc và sản phẩm của từng khâu khác nhau cho nên các chi phí phát sinh thƣờng khó kiểm soát.
Vì vậy việc cấp phát vốn ĐTXDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, nhằm quản lý chặt chẽ về chất lƣợng xây dựng và vốn đầu tƣ. 8 Ba là, sản phẩm ĐT XDCB là các công trình xây dựng thƣờng có vốn đầu tƣ lớn, thời gian thực hiện dự án kéo dài nên chi phí ĐT XDCB có sự biến động của giá cả nguyên vật liệu, lao động… Yếu tố lạm phát tuy đã đƣợc tính đến trong các hợp đồng nhƣng trên thực tế biến động giá cả là rất khó lƣờng. Tác động của nó không dễ dàng nhận biết cộng thêm tính chất phức tạp của lĩnh vực XDCB cho nên tình trạng thất thoát, lãng phí rất dễ xảy ra và tính chất của nó là rất nghiêm trọng. Điều này gây khó khăn cho cả chủ đầu tƣ và cơ quan kiểm soát, bởi lẽ các định mức đơn giá của Nhà nƣớc thƣờng ít thay đổi trong một thời gian nhất định.
Vì vậy quản lý và cấp phát vốn ĐT XDCB phải thiết lập các biện pháp quản lý và cấp vốn đầu tƣ phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn đƣợc sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng thất thoát vốn đầu tƣ, bảo đảm cho quá trình đầu tƣ xây dựng các công trình đƣợc thực hiện liên tục đúng theo kế hoạch và tiến độ đã đƣợc xác định. Bốn là, ĐT XDCB đƣợc tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các khu vực kinh tế xã hội, nên sản phẩm XDCB có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Việc quản lý và cấp phát vốn ĐT XDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ. Những đặc điểm của ĐT XDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của ĐT XDCB.
Vì vậy, quản lý chi ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN cần phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN và đƣợc vận dụng phù hợp với đặc điểm của ĐT XDCB nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tƣ. Khái niệm, phạm vi chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước * Khái niệm chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tƣ trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. 9 Chi đầu tƣ xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nƣớc để thực hiện các chƣơng trình, dự án đầu tƣ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chƣơng trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. [6] Chi đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN là hoạt động đầu tƣ của Nhà nƣớc vào các chƣơng trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tƣ vào các chƣơng trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
[8] Chi đầu tƣ XDCB có thể thực hiện theo hình thức đầu tƣ xây dựng mới hoặc theo hình thức đầu tƣ xây dựng mở rộng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa các tài sản cố định và năng lực sản xuất phục vụ hiện có. Dƣới giác độ là một nguồn vốn đầu tƣ nói chung, vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN cũng nhƣ các nguồn vốn khác- đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tƣ, bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho các hoạt dộng đầu tƣ, nghĩa là toàn bộ chi phí đầu tƣ. Theo Luật đầu tƣ (2014) của Việt Nam: “ Vốn đầu tƣ là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh”. Nhƣ vậy, vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN đƣợc hiểu là phần vốn tiền tệ từ NSNN đƣợc dự toán và thực hiện để đầu tƣ tài sản cố định nhằm tăng cƣờng và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
* Phạm vi chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nƣớc chi đầu tƣ vào những ngành, lĩnh vực then chốt để phát triển kinh tế- xã hội, các ngành, lĩnh vực không có khả năng thu hồi vốn mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không đƣợc phép đầu tƣ. Do đó phạm vi chi ĐT XDCB từ nguồn vốn NSNN tập trung chủ yếu vào các loại dự án sau: 10 - Dự án có quy mô lớn mà các thành phần kinh tế khác khó có khả năng đáp ứng. Các dự án này thƣờng là dự án xây dựng các công trình lớn có phạm vi ảnh hƣởng sâu rộng đến sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của các vùng, miền, địa phƣơng hoặc ngành, lĩnh vực. - Dự án có khả năng thu hồi vốn thấp.
Các dự án này do khả năng thu hồi vốn thấp nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác đầu tƣ, trong khi đó các công trình này lại mang ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, do đó Nhà nƣớc cần phải đầu tƣ xây dựng. - Dự án mà các thành phần kinh tế khác không đƣợc phép đầu tƣ. Loại này thƣờng là các công trình thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng, công trình bí mật nhà nƣớc, các công trình có ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng và đời sống kinh tế xã hội của nhân dân. Vai trò của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Về tổng thể, chi đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN có tác động hai mặt đến nền kinh tế: vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định kinh tế của mọi quốc gia.
Chính phủ sử dụng đầu tƣ nhƣ là một biện pháp kích cầu, đầu tƣ có kết quả làm tăng năng lực sản xuất, dịch vụ sẽ làm tăng tổng cung toàn xã hội, và tổng cầu tổng cung tăng lên sẽ kéo theo sản lƣợng cân bằng của nền kinh tế tăng thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng (GDP tăng), giảm tỷ lệ thất nghiệp. Ngoài ra, chi đầu tƣ XDCB từ NSNN còn có vai trò quan trọng: Thứ nhất, đầu tƣ XDCB tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất, tăng tích lũy tài sản của nền kinh tế quốc dân. Đầu tƣ XDCB để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nhƣ giao thông, thủy lợi, điện, trƣờng học, trạm y tế,… Thông qua việc duy trì và tăng thêm mức chi đầu tƣ XDCB, 11 vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN góp phần quan trọng tái tạo và tăng cƣờng năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng tích lũy cho nền kinh tế, tăng thu nhập quốc dân,. đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Thứ hai, đầu tƣ XDCB quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, giải quyết những vấn đề mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,. của từng vùng lãnh thổ. Thứ ba, chi đầu tƣ XDCB để tạo ra môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi nhằm thu hút các nguồn vốn khác trong nƣớc và nƣớc ngoài đầu tƣ vào phát triển kinh tế xã hội của Nhà nƣớc trong từng giai đoạn. Trong thực tế để thu hút vốn đầu tƣ thì phải tạo ra môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi, trong đó hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò rất quan trọng.
Hạ tầng kinh tế - xã hội tốt sẽ giúp các nhà đầu tƣ thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, sẽ khuyến khích đầu tƣ của khu vực tƣ nhân trong và ngoài nƣớc. Từ đó thực hiện tốt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Nhà nƣớc theo kế hoạch đã đặt ra. Kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc qua Kho bạc Nhà nƣớc 1.