Pháp Luật Kiểm Sát Xét Xử Sơ Thẩm Vụ Án KDTM - Vĩnh Phúc (Luận Văn)

Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại: Quy trình, thẩm quyền, và các vấn đề pháp lý liên quan. Tìm hiểu chi tiết để bảo vệ quyền lợi.

Trường đại học

Trường Đại Học Mở Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2024

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

0.7. Kết cấu của Luận văn

1. CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI

1.1. Pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thƣơng mại

1.1.1. Khái niệm pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại

1.1.2. Đặc điểm của pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại

1.1.3. Ý nghĩa của pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại

1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại

1.2. Pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thƣơng mại

1.2.1. Cơ sở thực tiễn

1.3. Kết luận Chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI

2.1. Quy định về kiểm sát việc nhận, thụ lý, chuyển đơn, trả đơn khởi kiện vụ án kinh doanh thƣơng mại

2.1.1. Quy định về kiểm sát việc nhận và thụ lý vụ án dân sự của Tòa án

2.1.2. Quy định về kiểm sát việc chuyển đơn khởi kiện

2.1.3. Quy định về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện

2.2. Quy định về kiểm sát các hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thƣơng mại

2.2.1. Quy định về kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án dân sự và hoạt động xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án

2.2.2. Quy định về kiểm sát việc ra các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VAKDTM

2.3. Quy định về kiểm sát phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thƣơng mại

2.3.1. Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm VAKDTM

2.3.2. Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động tố tụng khi tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm VAKDTM

2.4. Kết luận Chƣơng 2

3. CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN CỦA CÁC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở TỈNH VĨNH PHÚC

3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụánkinhdoanhthƣơngmạitạicácViệnkiểm sátnhândânởtỉnhVĩnhPhúc

3.2. Những thuận lợi, kết quả đạt được khi áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại tại các Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc

3.3. Một số hạn chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thƣơng mại

3.4.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

3.4.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật

3.5. Kết luận Chƣơng 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hiểu đúng vai trò kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại (VAKDTM) là một chức năng cốt lõi của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật chuyên ngành. Đây là quá trình VKSND thực hiện quyền lực nhà nước để kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình giải quyết một vụ án từ khi thụ lý đến khi ban hành bản án sơ thẩm. Mục tiêu chính là đảm bảo mọi hoạt động của Tòa án nhân dân (TAND), đương sự và các chủ thể liên quan đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Hoạt động này không chỉ giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cũng như lợi ích của Nhà nước. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, các tranh chấp hợp đồng và giao dịch thương mại ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất. Do đó, vai trò của công tác kiểm sát càng trở nên quan trọng, góp phần giữ vững sự ổn định và minh bạch của môi trường kinh doanh. Luận văn của tác giả Trần Anh Tuấn (2024) khẳng định, việc kiểm sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện sai sót của Tòa án mà còn là một cơ chế kiềm chế, đối trọng quyền lực, nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm. Thông qua các quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị phúc thẩm, Kiểm sát viên tác động trực tiếp đến chất lượng xét xử, đảm bảo các quyết định của Tòa án được đưa ra một cách khách quan, công bằng và đúng pháp luật.

1.1. Khái niệm và bản chất của hoạt động kiểm sát tư pháp

Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các VAKDTM là hoạt động của Viện kiểm sát nhằm kiểm tra và giám sát tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình giải quyết lần đầu một tranh chấp kinh doanh thương mại. Bản chất của hoạt động này là thực hành quyền công tốgiám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp. Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức VKSND 2014, đây là chức năng hiến định, thể hiện vai trò của VKSND trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực thi nghiêm minh và thống nhất.

1.2. Đặc điểm chính trong kiểm sát giải quyết tranh chấp thương mại

Hoạt động kiểm sát giải quyết VAKDTM có ba đặc điểm chính. Thứ nhất, nó bao trùm toàn bộ quy trình tố tụng sơ thẩm, từ khâu nhận đơn, thụ lý cho đến khi phiên tòa kết thúc và ban hành bản án. Thứ hai, thẩm quyền kiểm sát thuộc về VKSND cùng cấp và cấp trên trực tiếp, tạo ra một cơ chế giám sát đa tầng. Thứ ba, mục đích cuối cùng là đảm bảo việc giải quyết của Tòa án nhân dân phải khách quan, đúng pháp luật kinh doanh thương mạithủ tục tố tụng dân sự, bảo vệ tối đa quyền lợi các bên.

1.3. Ý nghĩa của việc giám sát tuân theo pháp luật trong tố tụng

Pháp luật về kiểm sát xét xử sơ thẩm VAKDTM có ý nghĩa to lớn. Nó góp phần bảo vệ pháp luật nội dung, đảm bảo các quy định được áp dụng chính xác. Đồng thời, đây là cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đặc biệt khi họ không đủ kiến thức pháp lý để tự bảo vệ. Quan trọng hơn, hoạt động này giúp kiềm chế sự lạm dụng quyền lực tư pháp, nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, từ đó củng cố niềm tin của doanh nghiệp và người dân vào công lý.

II. Top 3 thách thức trong kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Mặc dù có vai trò quan trọng, công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm các VAKDTM đang đối mặt với nhiều thách thức và bất cập đáng kể. Những khó khăn này xuất phát từ cả quy định pháp luật lẫn thực tiễn thi hành, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giám sát. Thách thức lớn nhất đến từ những khoảng trống và sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là Bộ luật tố tụng dân sự. Một số quy định còn mang tính hình thức, chưa có chế tài đủ mạnh để ràng buộc trách nhiệm của Tòa án trong việc phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu cho Viện kiểm sát nhân dân. Ví dụ, việc Tòa án chậm gửi thông báo thụ lý hay không gửi kèm đầy đủ tài liệu khiến Kiểm sát viên không có đủ cơ sở để đánh giá tính hợp pháp của các quyết định ban đầu. Bên cạnh đó, năng lực của một bộ phận cán bộ, Kiểm sát viên chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các vụ án phức tạp. Các tranh chấp thương mại hiện đại thường liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên sâu như tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, đòi hỏi Kiểm sát viên không chỉ vững về pháp luật tố tụng mà còn phải am hiểu sâu sắc về pháp luật kinh doanh thương mại. Sự hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa có thể dẫn đến việc bỏ lọt vi phạm hoặc đưa ra các kháng nghị thiếu sức thuyết phục. Cuối cùng, sự phối hợp giữa VKSND và Tòa án nhân dân đôi khi chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả. Vẫn còn tồn tại tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc nể nang, né tránh trong việc kiến nghị, khắc phục vi phạm, làm suy giảm hiệu lực của công tác kiểm sát.

2.1. Bất cập từ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Luận văn của Trần Anh Tuấn (2024) chỉ ra rằng BLTTDS 2015 chưa quy định chế tài cụ thể khi Tòa án vi phạm thời hạn gửi thông báo thụ lý, quyết định trả lại đơn khởi kiện cho VKS. Điều này làm giảm tính tuân thủ và gây khó khăn cho hoạt động giám sát ngay từ giai đoạn đầu. Hơn nữa, quy định về việc VKS kiến nghị đối với quyết định của Tòa án về trả lại đơn khởi kiện dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn vướng mắc trong việc tính toán thời hạn, đặc biệt khi trùng vào các kỳ nghỉ dài ngày.

2.2. Khó khăn thực tiễn từ năng lực của đội ngũ Kiểm sát viên

Thực tiễn cho thấy một số Kiểm sát viên còn hạn chế trong việc phát hiện các vi phạm tinh vi của Tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật nội dung. Nguyên nhân một phần do khối lượng công việc lớn, một phần do chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về các loại tranh chấp hợp đồng thương mại đặc thù. Việc thiếu kinh nghiệm dẫn đến một số vụ án bị cấp phúc thẩm hủy, sửa, ảnh hưởng đến quyền lợi đương sự và uy tín của ngành.

2.3. Vướng mắc trong sự phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dânTòa án nhân dân là quan hệ phối hợp và chế ước. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ chế này đôi khi hoạt động chưa hiệu quả. Việc trao đổi thông tin, chuyển giao hồ sơ còn chậm trễ. Các kiến nghị của VKS đôi khi chưa được Tòa án tiếp thu, giải quyết triệt để, dẫn đến vi phạm kéo dài mà không được khắc phục kịp thời. Điều này đòi hỏi cần có một quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng và chặt chẽ hơn.

III. Hướng dẫn quy trình kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Quy trình kiểm sát xét xử sơ thẩm một VAKDTM được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học, bám sát các giai đoạn của thủ tục tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Mỗi giai đoạn đều có những nội dung kiểm sát trọng tâm, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nắm vững nghiệp vụ để thực hiện đúng thẩm quyền của Viện kiểm sát. Quy trình này bắt đầu ngay từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện. Viện kiểm sát nhân dân sẽ kiểm sát việc Tòa án nhận đơn, xử lý và ra các quyết định tố tụng ban đầu như thụ lý, trả lại đơn khởi kiện hoặc chuyển đơn cho Tòa án có thẩm quyền. Mục tiêu của giai đoạn này là đảm bảo quyền khởi kiện của doanh nghiệp, công dân được tôn trọng, tránh tình trạng Tòa án từ chối thụ lý không đúng căn cứ pháp luật. Tiếp theo là giai đoạn chuẩn bị xét xử, đây là giai đoạn quan trọng nhất. Kiểm sát viên sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển sang, kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ của Thẩm phán, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và các quyết định tố tụng khác như tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án. Trong giai đoạn này, VKS có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập thêm chứng cứ nếu thấy cần thiết để đảm bảo việc giải quyết vụ án được toàn diện. Giai đoạn cuối cùng là tại phiên tòa sơ thẩm. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác. Đồng thời, Kiểm sát viên cũng trình bày quan điểm của VKS về việc giải quyết nội dung vụ án, góp phần giúp Hội đồng xét xử ra một bản án sơ thẩm công minh, đúng pháp luật.

3.1. Giám sát giai đoạn thụ lý trả lại hoặc chuyển đơn khởi kiện

Ngay khi nhận được thông báo thụ lý hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện từ Tòa án, Kiểm sát viên phải lập phiếu kiểm sát, đối chiếu với các quy định tại Điều 192, 195, 196 của BLTTDS. Nếu phát hiện Tòa án trả lại đơn không đúng, VKS sẽ thực hiện quyền kiến nghị. Việc giám sát chặt chẽ khâu này nhằm ngăn chặn vi phạm quyền tiếp cận công lý của các bên trong tranh chấp kinh doanh thương mại.

3.2. Kiểm tra hoạt động chuẩn bị xét xử và thu thập chứng cứ

Trong giai đoạn này, VKS kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, hoạt động xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án nhân dân. Nếu nhận thấy chứng cứ "còn non" hoặc việc xác định quan hệ pháp luật có sai sót, VKS sẽ ban hành văn bản yêu cầu Tòa án khắc phục. Đây là hoạt động then chốt để đảm bảo bản án sơ thẩm được tuyên dựa trên những chứng cứ vững chắc và hợp pháp.

3.3. Vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên không chỉ kiểm sát thủ tục mà còn tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Thông qua việc hỏi và phát biểu quan điểm, VKS góp phần làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, giúp Hội đồng xét xử sơ thẩm có cái nhìn toàn diện trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng, đảm bảo việc xét xử diễn ra công khai, minh bạch và đúng luật.

IV. Phương pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án KDTM

Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm các VAKDTM, cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, từ việc hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ của Kiểm sát viên đến việc tăng cường cơ chế phối hợp và ứng dụng công nghệ. Trọng tâm của mọi giải pháp là con người, do đó, việc nâng cao năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ ngành Kiểm sát là yếu tố tiên quyết. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về pháp luật kinh doanh thương mại, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng phát hiện vi phạm và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa. Một Kiểm sát viên giỏi không chỉ nắm chắc Bộ luật tố tụng dân sự mà còn phải có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực tranh chấp. Bên cạnh đó, việc sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm phải được thực hiện một cách thận trọng nhưng kiên quyết. Mỗi bản kháng nghị phải được xây dựng dựa trên những căn cứ pháp lý vững chắc, lập luận sắc bén, chỉ rõ những sai sót nghiêm trọng về thủ tục hoặc nội dung của bản án sơ thẩm. Chất lượng kháng nghị là thước đo quan trọng cho hiệu quả công tác kiểm sát. Để làm được điều này, cần có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân, duyệt kỹ nội dung kháng nghị trước khi ban hành. Ngoài ra, việc chủ động ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, theo dõi án và trao đổi nghiệp vụ cũng là một giải pháp mang tính đột phá. Xây dựng cơ sở dữ liệu về các vi phạm phổ biến, tổng kết kinh nghiệm qua các vụ án điển hình sẽ giúp Kiểm sát viên có thêm công cụ để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, góp phần đảm bảo quyết định của Tòa án luôn tuân thủ pháp luật.

4.1. Nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ và phát hiện vi phạm

Đây là kỹ năng cơ bản và quan trọng nhất của Kiểm sát viên. Cần xây dựng quy trình nghiên cứu hồ sơ khoa học, chú trọng vào việc kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ, việc xác định tư cách người tham gia tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc tổng kết, rút kinh nghiệm qua các vụ án bị hủy, sửa là cách tốt nhất để nâng cao khả năng phát hiện vi phạm cho đội ngũ cán bộ.

4.2. Cách thức thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hiệu quả

Quyền kháng nghị phúc thẩm là công cụ pháp lý sắc bén để VKS sửa chữa sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm. Để kháng nghị hiệu quả, cần phân tích kỹ lưỡng bản án sơ thẩm, đối chiếu với hồ sơ và các quy định pháp luật. Nội dung kháng nghị phải cụ thể, rõ ràng, chỉ ra vi phạm và đề xuất hướng giải quyết. Việc theo dõi kết quả xét xử phúc thẩm đối với các vụ án có kháng nghị là bắt buộc để đánh giá chất lượng công tác.

4.3. Tăng cường phối hợp với Tòa án để giám sát hiệu quả

Hiệu quả kiểm sát phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của Tòa án nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân cần chủ động xây dựng và duy trì quy chế phối hợp chặt chẽ, tổ chức các cuộc họp liên ngành định kỳ để trao đổi, tháo gỡ vướng mắc. Sự phối hợp tốt sẽ giúp VKS nắm bắt thông tin kịp thời, thực hiện việc giám sát tuân theo pháp luật một cách toàn diện và thực chất hơn.

V. Thực tiễn kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án KDTM từ tỉnh Vĩnh Phúc

Nghiên cứu thực tiễn tại các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2018-2022 cung cấp một cái nhìn sâu sắc về những kết quả đạt được cũng như các tồn tại trong công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm VAKDTM. Luận văn của Trần Anh Tuấn (2024) cho thấy, ngành Kiểm sát Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Thông qua hoạt động kiểm sát, nhiều vi phạm của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết án đã được phát hiện và kiến nghị khắc phục kịp thời. Công tác giám sát tuân theo pháp luật đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư trên địa bàn. Số lượng và chất lượng các bản kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm ngày càng được nâng cao. Nhiều kháng nghị của VKS đã được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, qua đó sửa, hủy các bản án sơ thẩm có sai sót nghiêm trọng. Điều này khẳng định vai trò và vị trí của VKS trong hoạt động tố tụng, đồng thời thể hiện năng lực chuyên môn của đội ngũ Kiểm sát viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, thực tiễn tại Vĩnh Phúc cũng bộc lộ một số hạn chế. Một số vi phạm phổ biến của Tòa án được chỉ ra bao gồm: xác định sai quan hệ pháp luật, xác định thiếu người tham gia tố tụng, áp dụng pháp luật không chính xác, vi phạm thời hạn tố tụng. Về phía VKS, vẫn còn tình trạng Kiểm sát viên chưa phát hiện hết vi phạm trong hồ sơ, dẫn đến việc bỏ lọt sai sót. Một số kiến nghị chưa được Tòa án tiếp thu triệt để. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ Vĩnh Phúc là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát trên phạm vi cả nước.

5.1. Những kết quả đạt được trong công tác giám sát tại Vĩnh Phúc

Qua kiểm sát hàng trăm thông báo thụ lý và các bản án, quyết định sơ thẩm VAKDTM, VKSND hai cấp tỉnh Vĩnh Phúc đã phát hiện nhiều vi phạm và ban hành các văn bản kiến nghị, kháng nghị. Các biện pháp này đã giúp Tòa án khắc phục sai sót, góp phần bảo vệ sự lành mạnh của môi trường kinh doanh và quyền lợi chính đáng của các bên trong tranh chấp hợp đồng.

5.2. Phân tích các dạng vi phạm tố tụng phổ biến của Tòa án

Thực tiễn cho thấy các vi phạm của Tòa án nhân dân thường tập trung vào giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các lỗi thường gặp là: xác định không đúng quan hệ pháp luật dẫn đến áp dụng luật sai, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ đã đưa vụ án ra xét xử, hoặc xác định thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng đến quyền của họ.

5.3. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn giải quyết tranh chấp

Kinh nghiệm từ Vĩnh Phúc cho thấy, để nâng cao chất lượng kiểm sát, cần tăng cường sự chỉ đạo của lãnh đạo Viện, đề cao trách nhiệm cá nhân của Kiểm sát viên trong nghiên cứu hồ sơ. Đồng thời, phải kiên quyết với các kháng nghị và theo dõi đến cùng việc khắc phục vi phạm của Tòa án. Việc tổng kết thực tiễn và trao đổi nghiệp vụ thường xuyên là giải pháp hữu hiệu để nâng cao trình độ cho đội ngũ.

18/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại. Chương 3: Thực tiễn thực hiện và những giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại tại các Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc. 12 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.

Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại Dưới góc độ nghiên cứu khoa học luật thì việc xây dựng khái niệm “pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại” phải được dựa trên những giải thích về các thuật ngữ pháp lý liên quan như “vụ án kinh doanh thương mại” và “ ét ử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại” và “kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại”. - Trước hết là về thuật ngữ “vụ án kinh doanh, thương mại” Vụ án kinh doanh, thương mại (VAKDTM) phát sinh tại tòa án nhân dân uất phát t tranh chấp về kinh doanh thương mại (KDTM) được một hoặc các bên tranh chấp mang đến tòa án để yêu cầu tòa án giải quyết. Tranh chấp KDTM là hệ quả tất yếu của hoạt động KDTM trong nền kinh tế thị trường.

Tranh chấp KDTM là những bất đồng, ung đột về quyền, lợi ch giữa các bên chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại1. Tranh chấp KDTM phát sinh t các quan hệ KDTM, gắn liền với mục đ ch sinh lời và chủ thể tranh chấp thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân có đăng ký kinh doanh hoặc có tư cách của nhà kinh doanh, đã hoặc đang tiến hành các hoạt động nhằm mục đ ch sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, ký gửi, thuê và cho thuê, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ… Vì tranh chấp KDTM là tranh chấp mang yếu tố vật chất, thường có giá trị lớn và mục đ ch của các bên tranh chấp đều hướng tới việc tìm kiếm, bảo vệ lợi nhuận nên so với các tranh chấp 1 Nguyễn Hoàng Hải (2017), a giải trong giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn t a án thành phố ải Ph ng, Luận văn thạc sĩ luật học, trang 7 13 khác, tranh chấp KDTM thường có mức độ gay gắt, t nh chất phức tạp hơn, vì thế việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi phải đa dạng nhưng hiệu quả, nhanh chóng nhưng phải ch nh ác, khách quan. Tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như các bên tự thỏa thuận, các bên hòa giải với nhau thông qua bên thứ ba, giải quyết tại trọng tại thương mại hoặc giải quyết tại Tòa án theo trình tự các thủ tục tố tụng dân sự. Mỗi phương thức giải quyết đều có những ưu điểm nhất định song phương thức giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án có những ưu điểm riêng như việc giải quyết khá minh bạch vì được dựa trên các quy định của của pháp luật hay kết quả giải quyết được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước… nên hay được một hoặc các bên tranh chấp lựa chọn áp dụng ngày càng nhiều.

Khi tranh chấp KDTM được khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu Tòa án nhận thấy việc khởi kiện đó đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định thì Tòa án s thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết đơn khởi kiện đó. Tranh chấp KDTM ch nh thức trở thành VAKDTM khi được Tòa án thụ lý giải quyết. Như vậy “vụ án kinh doanh thương mại” là thuật ngữ pháp lý chỉ tranh chấp phát sinh t các hoạt động KDTM, được Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện của một hoặc các bên chủ thể KDTM có mục đ ch tìm kiếm lợi nhuận. - Về thuật ngữ “xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại” Để việc giải quyết VAKDTM được đúng đắn, khách quan, bảo vệ công bằng, bình đẳng quyền, lợi ch hợp pháp của các chủ thể KDTM thì việc giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án phải tuân theo một trình tự các thủ tục do pháp luật quy định và phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật liên quan.

Trình tự các thủ tục tố tụng mà Tòa án cần phải tiến hành bao gồm tiếp nhận, ử đơn khởi kiện để thụ lý VAKDTM, chuẩn bị ét ử VAKDTM, hòa giải các bên tranh chấp trong VAKDTM trước khi mở phiên tòa ét ử, mở phiên tòa để lần đầu tiên công khai giải quyết và ra phán quyết giải quyết về VAKDTM. Ch nh trình tự các thủ tục t khi Tòa án lần đầu nhận và thụ lý đơn khởi kiện đến khi Tòa án ra phán quyết 14 giải quyết về nội dung VAKDTM này được gọi chung là thủ tục sơ thẩm VAKDTM, hay còn có thể được gọi là ét ử sơ thẩm VAKDTM. Theo giải th ch trong Đại T điển tiếng Việt thì “sơ thẩm” là “ ét ử lần đầu một vụ việc ở tòa án cấp thấp”2. Cách giải th ch này tương tự như giải th ch trong T điển Hán Việt: “sơ thẩm” là lần ét ử lần đầu tiên, lần thứ nhất3.

Chuyên sâu hơn, dưới góc độ khoa học luật thì trong T điển thuật ngữ luật học, thuật ngữ sơ thẩm được giải th ch là “ ét ử lần đầu vụ án dân sự”4. Như vậy, t những giải th ch trên có thể hiểu chung nhất: ét ử sơ thẩm là một trình tự các bước mà Tòa án phải tiến hành theo quy định của pháp luật để ét ử lần đầu đối với VAKDTM phát sinh tại Tòa án. - Về thuật ngữ “Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại”. Theo giải th ch trong Đại t điển Tiếng Việt thì “Kiểm sát là việc kiểm tra và giám sát, là công tác điều tra tố tụng các vụ án theo pháp luật”5.

Trong T điển Tiếng Việt c ng có cách giải th ch tương tự: “Kiểm sát là kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”6. Kiểm sát còn được hiểu “là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi vi phạm pháp luật, kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chính và thống nhất. Như vậy, hiểu theo cách chung nhất kiểm sát là một hoạt động thiết yếu của một cơ quan được nhà nước được phân công quyền hạn, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động chấp hành pháp luật của một hoặc một số cơ quan nhà nước khác. 2 Nguyễn Như Ý (1998), Đại T điển tiếng Việt, N b Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.net/hv/s%C6%A1%20th%E1%BA%A9m 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học, NXB.Công an nhân dân, Hà Nội, Trang 224.

5 Đại t điển Tiếng Việt, (1999), NXB Đà Nẵng 6 T điển Tiếng Việt (1999), NXB Đà Nẵng 7 Viện khoa học pháp lý, t điển luật học, NXB tư pháp 15 Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm sát” gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan Viện kiểm sát (VKSND) trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Ngay t thời Pháp thuộc VKSND đã được thành lập. Mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hiến Pháp Việt Nam năm 1946 tuy không đề cập đến VKSND nhưng trong cơ cấu của Tòa án có các KSV làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên tòa trong các vụ án hình sự.

Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền bắc, t năm 1958 VKSND được tách ra khỏi Tòa án nhưng trực thuộc Chính Phủ và hình thành một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập với Tòa án t trung ương đến địa phương. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự ra đời của ngành Kiểm sát nhân dân Việt Nam. Hệ thống VKSND ra đời có vai trò, vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. VKSND được tổ chức thành một hệ thống t trung ương đến địa phương, có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Hiện nay, theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp Việt Nam năm 2013, VKSND tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Cụ thể hóa Hiến pháp, khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 c ng khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Xuất phát t chức năng, nhiệm vụ chung, VKSND có quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự, trong đó có VAKDTM. Việc kiểm sát, giám sát này có ý nghĩa bảo đảm việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng dân sự, bảo đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Tòa án, bảo vệ khách 16 quan quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Trong tố tụng dân sự, TAND và VKSND đều có vị trí, vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự. Đây đồng thời c ng là hai cơ quan được Nhà nước trao quyền lực Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích dân sự hợp pháp, trong đó đó quyền, lợi ích về KDTM.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ