Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại. Chương 3: Thực tiễn thực hiện và những giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại tại các Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc. 12 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.
Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại Dưới góc độ nghiên cứu khoa học luật thì việc xây dựng khái niệm “pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại” phải được dựa trên những giải thích về các thuật ngữ pháp lý liên quan như “vụ án kinh doanh thương mại” và “ ét ử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại” và “kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại”. - Trước hết là về thuật ngữ “vụ án kinh doanh, thương mại” Vụ án kinh doanh, thương mại (VAKDTM) phát sinh tại tòa án nhân dân uất phát t tranh chấp về kinh doanh thương mại (KDTM) được một hoặc các bên tranh chấp mang đến tòa án để yêu cầu tòa án giải quyết. Tranh chấp KDTM là hệ quả tất yếu của hoạt động KDTM trong nền kinh tế thị trường.
Tranh chấp KDTM là những bất đồng, ung đột về quyền, lợi ch giữa các bên chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại1. Tranh chấp KDTM phát sinh t các quan hệ KDTM, gắn liền với mục đ ch sinh lời và chủ thể tranh chấp thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân có đăng ký kinh doanh hoặc có tư cách của nhà kinh doanh, đã hoặc đang tiến hành các hoạt động nhằm mục đ ch sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, ký gửi, thuê và cho thuê, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ… Vì tranh chấp KDTM là tranh chấp mang yếu tố vật chất, thường có giá trị lớn và mục đ ch của các bên tranh chấp đều hướng tới việc tìm kiếm, bảo vệ lợi nhuận nên so với các tranh chấp 1 Nguyễn Hoàng Hải (2017), a giải trong giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn t a án thành phố ải Ph ng, Luận văn thạc sĩ luật học, trang 7 13 khác, tranh chấp KDTM thường có mức độ gay gắt, t nh chất phức tạp hơn, vì thế việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi phải đa dạng nhưng hiệu quả, nhanh chóng nhưng phải ch nh ác, khách quan. Tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như các bên tự thỏa thuận, các bên hòa giải với nhau thông qua bên thứ ba, giải quyết tại trọng tại thương mại hoặc giải quyết tại Tòa án theo trình tự các thủ tục tố tụng dân sự. Mỗi phương thức giải quyết đều có những ưu điểm nhất định song phương thức giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án có những ưu điểm riêng như việc giải quyết khá minh bạch vì được dựa trên các quy định của của pháp luật hay kết quả giải quyết được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước… nên hay được một hoặc các bên tranh chấp lựa chọn áp dụng ngày càng nhiều.
Khi tranh chấp KDTM được khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu Tòa án nhận thấy việc khởi kiện đó đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định thì Tòa án s thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết đơn khởi kiện đó. Tranh chấp KDTM ch nh thức trở thành VAKDTM khi được Tòa án thụ lý giải quyết. Như vậy “vụ án kinh doanh thương mại” là thuật ngữ pháp lý chỉ tranh chấp phát sinh t các hoạt động KDTM, được Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện của một hoặc các bên chủ thể KDTM có mục đ ch tìm kiếm lợi nhuận. - Về thuật ngữ “xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại” Để việc giải quyết VAKDTM được đúng đắn, khách quan, bảo vệ công bằng, bình đẳng quyền, lợi ch hợp pháp của các chủ thể KDTM thì việc giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án phải tuân theo một trình tự các thủ tục do pháp luật quy định và phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật liên quan.
Trình tự các thủ tục tố tụng mà Tòa án cần phải tiến hành bao gồm tiếp nhận, ử đơn khởi kiện để thụ lý VAKDTM, chuẩn bị ét ử VAKDTM, hòa giải các bên tranh chấp trong VAKDTM trước khi mở phiên tòa ét ử, mở phiên tòa để lần đầu tiên công khai giải quyết và ra phán quyết giải quyết về VAKDTM. Ch nh trình tự các thủ tục t khi Tòa án lần đầu nhận và thụ lý đơn khởi kiện đến khi Tòa án ra phán quyết 14 giải quyết về nội dung VAKDTM này được gọi chung là thủ tục sơ thẩm VAKDTM, hay còn có thể được gọi là ét ử sơ thẩm VAKDTM. Theo giải th ch trong Đại T điển tiếng Việt thì “sơ thẩm” là “ ét ử lần đầu một vụ việc ở tòa án cấp thấp”2. Cách giải th ch này tương tự như giải th ch trong T điển Hán Việt: “sơ thẩm” là lần ét ử lần đầu tiên, lần thứ nhất3.
Chuyên sâu hơn, dưới góc độ khoa học luật thì trong T điển thuật ngữ luật học, thuật ngữ sơ thẩm được giải th ch là “ ét ử lần đầu vụ án dân sự”4. Như vậy, t những giải th ch trên có thể hiểu chung nhất: ét ử sơ thẩm là một trình tự các bước mà Tòa án phải tiến hành theo quy định của pháp luật để ét ử lần đầu đối với VAKDTM phát sinh tại Tòa án. - Về thuật ngữ “Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại”. Theo giải th ch trong Đại t điển Tiếng Việt thì “Kiểm sát là việc kiểm tra và giám sát, là công tác điều tra tố tụng các vụ án theo pháp luật”5.
Trong T điển Tiếng Việt c ng có cách giải th ch tương tự: “Kiểm sát là kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”6. Kiểm sát còn được hiểu “là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi vi phạm pháp luật, kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chính và thống nhất. Như vậy, hiểu theo cách chung nhất kiểm sát là một hoạt động thiết yếu của một cơ quan được nhà nước được phân công quyền hạn, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động chấp hành pháp luật của một hoặc một số cơ quan nhà nước khác. 2 Nguyễn Như Ý (1998), Đại T điển tiếng Việt, N b Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.net/hv/s%C6%A1%20th%E1%BA%A9m 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học, NXB.Công an nhân dân, Hà Nội, Trang 224.
5 Đại t điển Tiếng Việt, (1999), NXB Đà Nẵng 6 T điển Tiếng Việt (1999), NXB Đà Nẵng 7 Viện khoa học pháp lý, t điển luật học, NXB tư pháp 15 Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm sát” gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan Viện kiểm sát (VKSND) trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Ngay t thời Pháp thuộc VKSND đã được thành lập. Mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hiến Pháp Việt Nam năm 1946 tuy không đề cập đến VKSND nhưng trong cơ cấu của Tòa án có các KSV làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên tòa trong các vụ án hình sự.
Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền bắc, t năm 1958 VKSND được tách ra khỏi Tòa án nhưng trực thuộc Chính Phủ và hình thành một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập với Tòa án t trung ương đến địa phương. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự ra đời của ngành Kiểm sát nhân dân Việt Nam. Hệ thống VKSND ra đời có vai trò, vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. VKSND được tổ chức thành một hệ thống t trung ương đến địa phương, có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Hiện nay, theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp Việt Nam năm 2013, VKSND tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Cụ thể hóa Hiến pháp, khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 c ng khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Xuất phát t chức năng, nhiệm vụ chung, VKSND có quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự, trong đó có VAKDTM. Việc kiểm sát, giám sát này có ý nghĩa bảo đảm việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng dân sự, bảo đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Tòa án, bảo vệ khách 16 quan quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Trong tố tụng dân sự, TAND và VKSND đều có vị trí, vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự. Đây đồng thời c ng là hai cơ quan được Nhà nước trao quyền lực Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích dân sự hợp pháp, trong đó đó quyền, lợi ích về KDTM.