CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM 1. Lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam 1. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Các BPNC là một trong những chế định pháp lý quan trọng có ý nghĩa to lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Trong số những BPNC có ý nghĩa quan trọng nhất đó là tạm giam. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời các quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC nói chung hay BPNC tạm giam nói riêng là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội1. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án hình sự. Từ điển Luật học năm 2006 có khái niệm về tạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân.
Đây là biện pháp ngăn chặn, cách ly bị can, bị cáo trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội mới của bị can, 1 Nguyễn Hữu Tùng Lâm (2018), Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Tr. 7 bị cáo, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi 2. Theo khái niệm này thì người bị tạm giam bao gồm bị can, bị cáo, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc trong thời gian chờ thi hành án, người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ. Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu ra được mục đích, thẩm quyền, phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ nêu được đối tượng và bản chất của tạm giam.
Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội có khái niệm: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng theo quy định của pháp luật 3. Đối chiếu với khái niệm trước, khái niệm này đã nêu được thẩm quyền, đối tượng và phạm vi áp dụng do pháp luật quy định nhưng chưa nêu rõ được mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Theo khái niệm tạm giam trong Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng, hạn chế tự do thân thể trong một thời hạn nhất định đối với bị can, bị cáo khi có căn cứ do BLTTHS quy định nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án 4. Khái niệm này đã nêu ra được đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng do BLTTHS quy định, thẩm quyền áp dụng và đã nêu ra được mục đích áp dụng của biện pháp ngăn chặn này.
2 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
4 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 8 Từ ba khái niệm đã phân tích trên, theo tác giả có thể đưa ra khái niệm tạm giam như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc được quy định trong luật tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có căn cứ để hạn chế tự do thân thể của bị can, bị cáo trong thời hạn nhất định, ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở các hoạt động tố tụng hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo, góp phần đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi”. Kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam là một trong những công tác của VKSND để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Hoạt động này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhằm phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở cơ sở giam giữ. Sự khác biệt giữa hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát với hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là một số quyền đặc thù mà pháp luật cho phép chỉ có Viện kiểm sát mới được thực hiện. Các quyền này đồng thời cũng là nghĩa vụ của Viện kiểm sát, tạo nên sự khác biệt về phương thức hoạt động kiểm sát mà các chủ thể khác không có5. Hoạt động kiểm sát tạm giam là một quyền năng pháp lý quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã trao cho ngành Kiểm sát; là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên làm công tác này phải hết sức cầu thị, không ngừng học hỏi, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng kiểm sát, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đảm bảo cho 5 Võ Bình Vương (2018), Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, tr.
9 những người bị tạm giam, không bị oan sai; các chế độ, quyền lợi được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật6. Theo Từ điển Luật học: Kiểm sát các hoạt động tư pháp là kiểm tra, xem xét theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất7. Việc áp dụng BPNC tạm giam ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của con người nên cần có quy định về cơ chế kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và khắc phục những vi phạm trong việc áp dụng biện pháp này của các cơ quan có thẩm quyền theo luật TTHS quy định. Vì vậy, Nhà nước đã giao VKS là cơ quan thực hiện chức năng này.
Hiến pháp năm 2013 quy định chức năng của Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Có thể thấy Hiến pháp ghi nhận chức năng này của VKSND nhằm bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất và nghiêm chỉnh, qua đó bảo đảm tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do thân thể của con người, quyền công dân, góp phần trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải 6 https://coquandieutravkstc.vn/ky-nang-kinh-nghiem-trong-cong-tac-kiem-sat-viec-tam-giu-tam-giam, truy cập ngày 20/5/2021. 7 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb.
Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 10 quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật8. Với chức năng kiểm sát hoạt động tự pháp của VKS thì kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là một công tác rất quan trọng. Quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan đều là căn cứ để VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này để kiểm tra, xem xét, đánh giá tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong áp dụng BPNC tạm giam.
VKS có quyền áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định như kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm để loại bỏ việc vi phạm pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc áp dụng BPNC tạm giam cho đến khi những quyền con người, quyền công dân đó là người bị áp dụng BPNC này được khắc phục theo pháp luật quy định. Việc áp dụng BPNC tạm giam bắt đầu từ khi các cơ quan THTT ra lệnh hoặc quyết định áp dụng biện pháp này đối với người bị tạm giam và kết thúc khi người bị tạm giam có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc họ được thay đổi BPNC khác hoặc họ được hủy bỏ BPNC tạm giam khi vụ án bị đình chỉ, được trả tự do vì không phạm tội. Pháp luật TTHS chỉ quy định thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam đối với CQĐT, VKS và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chứ không phải tất cả các cơ quan tư pháp đều có thẩm quyền này.