Chương 1: một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm - Chương 2: thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại địa bàn tỉnh ninh bình và các giải pháp CHUONG 1: MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHAP LUAT TO TUNG HINH SU VE KIEM SAT VIEC GIAI QUYET TO GIAC, TIN BAO VE TOI PHAM 1. Một số vẫn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm 1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm > Khái niệm tô giác, tin báo về tội phạm Tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố là nguồn thông tin quan trọng, là cơ sở ban đầu để cơ quan tiến hành tố tụng xác minh các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự và tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo. Theo Từ điển Tiếng Việt: “fin là điều được truyén đi, báo cho biết về sự việc, tình hình xảy ra” [34, tr 993].
Cũng theo nghĩa phổ thông thì tố cáo và tố giác cũng có nghĩa là bảo cho cơ quan có thẩm quyên biết về người hoặc hành động phạm pháp. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, tố cáo và tố giác về tội phạm không đồng nhất. Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo 2018 đã định nghĩa như sau: “Tổ cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vì vi phạm pháp luật của bắt kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ”[19, khoản 1 Điều 2]. Như vậy, chủ thê của hành vi tố cáo là công dân và đối tượng của tố cáo là bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào.
Trong khi đó, tố giác về tội phạm có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là báo cho cơ quan có thâm quyền về hành vi có dấu hiệu tội phạm. Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn các yếu tô câu thành tội phạm được quy định trong BLHS. Do vậy, có thể thấy khái niệm tố cáo bao hàm các khái niệm tô giác về tội phạm Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: “7ố cáo là quyền của công dân, còn tô giác về tội phạm vừa là quyên, vừa là nghĩa vụ của công dân ”[2.Như vậy, việc tố cáo hành vi phạm pháp luật hay không là sự lựa chọn của công dân. Trong khi đó, tố giác về tội phạm còn là nghĩa vụ của công dân Pháp luật hình sự cũng đã tội phạm hóa hành vi không tổ giác tội phạm.
Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm. Hiện nay, khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đã được đưa ra trong BLTTHS. Theo khoản I Điều 144 BLTTHS năm 2015: “tổ giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tổ cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyên ”[19, khoản 1 Điều 144]; khoản 2 Điều 144 BLTTHS năm 2015: “Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm đo cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyên hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tín đại chúng ”[19, khoản 2 Điều 144]. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm trong BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm tương đồng và khác biệt với khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đã được đưa ra trong một số công trình khoa học hiện nay.
Trong bài viết của mình tại Tạp chí Viện kiểm sát,tác giả Lê Ra đưa ra định nghĩa cho tố giác, tin báo về tội phạm như sau: “Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh vỀ tội phạm xảy ra cho cơ quan thẩm quyên giải quyết theo quy định của BLTTHS. Tố giác vỀ tội phạm được hiểu là việc cá nhân phát hiện, to cdo người phạm tội hoặc hành vì có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có tham quyên giải quyết theo quy định của BLTTHS |9, tr 37] Tác giả Hoàng Huy Hiệp trên số Ø7, Tạp chí Viện Kiểm Sát 2015 thì định nghĩa như sau: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu về tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyiết ”[1, tr 18] Theo Từ điển Pháp luật Việt Nam thì: “?r báo về tội phạm là thông tin về Vụ Việc CÓ dấu hiệu tội phạm đo cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyên hoặc thông thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng”; “tô giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tổ cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền ”113, tr201] Về cơ bản, các khái niệm đều thống nhất chủ thể của tố giác về tội phạm là cá nhân và đối tượng của tổ giác về tội phạm là hành vi có dấu hiệu tội phạm. Các khái niệm cũng đều thống nhất tin báo, tố giác về tội phạm là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm.Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả Ngô Long Khánh định nghĩa: “Tin báo, tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau, do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thủ dé cho co quan co trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS”[10, tr 13] Trong luận văn của mình, tác giả Nguyễn Quang Hòa cho rằng: “cần hiểu bản chất của tin báo do công dân hoặc cá nhân cung cấp là tô giác tội phạm ” (14, tr 13].O khia cạnh nhất định, tác giả đồng tình với quan điểm này. Ví dụ, khi cá nhân báo tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong đó chỉ ra hành vi có dấu hiệu tội phạm, như hành vi cướp, cỗ ý gây thương tích và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì đây chính là tố giác về tội 10 pham.
Nếu một cá nhân có chức vụ, như Chủ tịch HĐND huyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhân danh cơ quan, tô chức để tố cáo một hành vi có dấu hiệu tội phạm thì đây chính là tin báo về tội phạm do cơ quan, tô chức cung cấp. Tuy nhiên, nếu người có chức vụ đó nhân danh cá nhân mình đề tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm thì được coi là tố giác về tội phạm hay tin báo về tội phạm? Theo quan điểm của tác giả, đây chính là trường hợp tổ giác về tội phạm vi thỏa mãn dấu hiệu chủ thể là cá nhân, không quan trọng cá nhân đó thực hiện hành vi tố cáo về hành vi có dấu hiệu tội phạm với tư cách là một công dân bình thường hay với tư cách là một người đang nắm giữ chức vụ. Tuy nhiên, trên thực tiễn cũng xảy ra trường hợp, cá nhân phát hiện ra một vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng không xác định được người nào có hành vi có dấu hiệu tội phạm mà chỉ có thể báo tin với cơ quan nhà nước có thâm quyền về vụ việc này. Ví dụ một cá nhân phát hiện ra một xác chết đang bị phân hủy trong một vườn cây bỏ hoang và báo cho công an xã.
Vậy trường hợp này cần coi là tin báo hay tố giác về tội phạm? Tác giả luận văn cho răng để được coi là tố giác về tội phạm, cá nhân báo tin cần phải chỉ ra hành vi có dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm này. Do vậy, nếu cá nhân chỉ báo tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm, như vụ xác chết trong vườn cây bỏ hoang vừa nêu trên, thì cần được coi là tin báo về tội phạm. Từ những phân tích trên có thê đưa ra định nghĩa về tin báo, tố giác về tội phạm như sau: Tin báo về tội phạm là những thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan nhà nước có thầm quyền băng bất kỳ hình thức hoặc phương thức truyền tin nào. Tin báo về tội phạm có thê được truyên tải trên các phương tiện thông tin đại chúng.
11 Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ huật hình sự do cá nhân cung cấp cho cơ quan nhà nước có thâm quyên. > Khái niệm giải quyết tô giác, tin báo về tội phạm Mặc dù có những đặc điểm khác nhau nhưng tin báo, tố giác về tội phạm đều có chung một bản chất là nguồn thông tin về tội phạm, và chính vì cùng chung đối tượng phản ánh là về vấn đề tội phạm nên yêu cầu phải được tiếp nhận, giải quyết theo một trình tự luật định. Trên thực tế, chất lượng thông tin được cung cấp thông qua hoạt động cung cấp tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố thường không đồng đều. Trong nhiều trường hợp, vì lý do khác nhau, những thông tin được chuyền tải đến cơ quan có thâm quyền không được chính xác và đầy đủ.
Đồng thời, trong nhiều trường hợp, các thông tin do người tổ giác hoặc báo tin cung cấp có thể chưa đủ cơ sở để xác định đầy đủ các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đây là những nguồn thông tin ban đầu giúp cho các cơ quan có thâm quyên tiến hành tố tụng tiễn hành các thủ tục nhăm xác minh sự thật khách quan để xác định căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.