Luận văn: Kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm tại Ninh Bình

Nghiên cứu về kiểm sát giải quyết tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam tại Ninh Bình, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Luật

2023

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò kiểm sát giải quyết tố giác tin báo tội phạm

Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một nhiệm vụ cốt lõi, mang tính quyền lực nhà nước, được pháp luật giao cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Đây là giai đoạn khởi đầu, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Mục tiêu chính của hoạt động này là đảm bảo mọi thông tin về tội phạm được tiếp nhận, xác minh và xử lý một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Công tác này giúp ngăn chặn hiệu quả tình trạng bỏ lọt tội phạm, đồng thời tránh làm oan người vô tội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp. Cơ sở pháp lý của hoạt động này được quy định rõ trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015, và Luật Tổ chức VKSND 2014. Theo đó, VKSND không chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp mà còn thực hành quyền công tố ngay từ giai đoạn đầu tiên này. Việc kiểm sát chặt chẽ đảm bảo rằng Cơ quan điều tra (CQĐT) và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về trình tự, thủ tục và thời hạn. Luận văn của tác giả Trương Thanh Bình nhấn mạnh rằng, hiệu quả của công tác này tại Ninh Bình là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Việc kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm không chỉ là giám sát đơn thuần mà còn bao gồm các quyền năng pháp lý như yêu cầu xác minh, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật, và trực tiếp giải quyết trong trường hợp cần thiết.

1.1. Phân biệt tố giác và tin báo về tội phạm theo BLTTHS 2015

Theo quy định tại Điều 144 BLTTHS 2015, cần phân biệt rõ hai khái niệm này. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Chủ thể của tố giác là cá nhân. Ngược lại, tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo hoặc thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Chủ thể của tin báo có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Luận văn chỉ ra rằng, việc phân biệt rõ ràng hai nguồn tin này giúp các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng quy trình tiếp nhận và xử lý, là cơ sở để VKSND thực hiện hoạt động kiểm sát hiệu quả.

1.2. Ý nghĩa của kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác tội phạm

Hoạt động kiểm sát này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, nó đảm bảo mọi hành vi phạm tội được phát hiện và xử lý kịp thời, là "bộ lọc" đầu vào của quá trình tố tụng hình sự. Thứ hai, nó là cơ sở để VKSND nắm chắc nguồn tin, kiểm soát thời hạn giải quyết, tránh tình trạng "treo" tin báo hoặc để quá hạn. Thứ ba, hoạt động này đảm bảo các quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT là có căn cứ, đúng pháp luật, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp. Như tác giả Trương Thanh Bình phân tích, đây là khâu công tác có ý nghĩa tiên quyết đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

II. Vạch trần vướng mắc trong kiểm sát giải quyết tố giác tin báo

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại tỉnh Ninh Bình vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và vướng mắc. Một trong những thách thức lớn nhất đến từ sự thiếu đồng bộ và một số bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Ví dụ, quy định về thời hạn giải quyết đôi khi chưa phù hợp với những vụ việc phức tạp, đòi hỏi trưng cầu giám định, định giá tài sản kéo dài. Điều này dẫn đến tình trạng một số tin báo bị quá hạn giải quyết không phải do lỗi chủ quan của CQĐT hay Kiểm sát viên. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa VKSNDCQĐT đôi khi chưa thực sự chặt chẽ và kịp thời. Việc trao đổi thông tin, tài liệu có lúc còn chậm trễ, ảnh hưởng đến tiến độ xác minh. Năng lực của một bộ phận cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này còn hạn chế, chưa chủ động đề ra các yêu cầu xác minh sắc bén. Luận văn của tác giả Trương Thanh Bình chỉ ra rằng, một số CQĐT chưa quản lý đầy đủ và chính xác tình hình tội phạm, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt thông tin. Các nguồn lực về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác kiểm sát và xác minh tin báo còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Những vướng mắc này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

2.1. Bất cập từ các quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành

Một số quy định trong BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành còn chưa cụ thể, gây khó khăn trong áp dụng. Ví dụ, khái niệm "vi phạm pháp luật nghiêm trọng" để VKSND trực tiếp giải quyết tin báo chưa được định lượng rõ ràng. Tương tự, cơ chế xử lý khi có quan điểm khác nhau giữa VKSNDCQĐT về việc khởi tố hay không khởi tố vụ án đôi khi chưa hiệu quả, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết. Những lỗ hổng pháp lý này cần được nghiên cứu và hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kiểm sát.

2.2. Khó khăn trong phối hợp liên ngành VKSND và Cơ quan điều tra

Thực tiễn tại Ninh Bình cho thấy, mặc dù có quy chế phối hợp, nhưng việc thực hiện đôi khi còn mang tính hình thức. Tình trạng CQĐT chậm gửi các quyết định tố tụng, thông báo kết quả xác minh cho VKSND vẫn còn xảy ra. Điều này khiến Viện kiểm sát gặp khó khăn trong việc theo dõi, kiểm sát chặt chẽ quá trình giải quyết. Ngược lại, một số yêu cầu xác minh của Kiểm sát viên còn chung chung, chưa cụ thể, gây khó khăn cho Điều tra viên trong quá trình thực hiện. Việc tăng cường trách nhiệm và xây dựng cơ chế phối hợp thực chất là yêu cầu cấp bách.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát tố giác tin báo

Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là yêu cầu tiên quyết. Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS 2015 và các văn bản liên quan theo hướng tăng cường vai trò, trách nhiệm của VKSND. Cụ thể, cần quy định rõ hơn về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc yêu cầu CQĐT cung cấp thông tin, tài liệu ngay từ khi tiếp nhận nguồn tin, không cần chờ thông báo thụ lý chính thức. Điều này giúp VKS chủ động nắm bắt tình hình và thực hiện kiểm sát ngay từ đầu. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn chi tiết về các trường hợp "có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm" hoặc "vi phạm pháp luật nghiêm trọng" để VKS có căn cứ pháp lý vững chắc khi quyết định trực tiếp giải quyết tin báo. Luận văn đề xuất cần xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp thẩm quyền một cách nhanh chóng, hiệu quả khi có sự không thống nhất giữa các cơ quan. Ngoài ra, việc bổ sung các quy định về áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt trong giai đoạn xác minh tin báo đối với một số loại tội phạm nghiêm trọng cũng là một giải pháp cần cân nhắc. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi để công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đi vào thực chất và hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

3.1. Sửa đổi bổ sung quy định về thời hạn và gia hạn giải quyết

Pháp luật cần có quy định linh hoạt hơn về thời hạn giải quyết đối với các vụ việc phức tạp, đặc biệt là những trường hợp cần trưng cầu giám định tư pháp hoặc tương trợ tư pháp quốc tế. Cần xem xét kéo dài thời hạn gia hạn giải quyết tin báo, nhưng phải gắn với trách nhiệm giải trình của CQĐT và sự kiểm sát chặt chẽ của VKSND. Điều này vừa đảm bảo thời gian cần thiết để xác minh, vừa tránh lạm dụng để kéo dài vụ việc một cách không cần thiết.

3.2. Cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan trong việc tiếp nhận tin

Cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác (ngoài CQĐTVKSND) như Công an xã, phường, Tòa án, cơ quan báo chí trong việc chuyển tin báo, tố giác. Phải có chế tài cụ thể đối với các trường hợp chậm trễ, không chuyển hoặc làm thất lạc thông tin về tội phạm. Việc này đảm bảo không một nguồn tin nào về tội phạm bị "bỏ quên", tạo ra một mạng lưới tiếp nhận thông tin hiệu quả và có trách nhiệm, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng kiểm sát giải quyết tin báo tội phạm

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng thực tiễn là giải pháp mang tính đột phá cho công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Yếu tố con người là trung tâm. Do đó, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ Kiểm sát viên. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào kỹ năng phân tích, đánh giá chứng cứ, kỹ năng đặt câu hỏi và đề ra yêu cầu xác minh một cách sắc bén, hiệu quả. Đồng thời, cần nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm của mỗi Kiểm sát viên. Việc xây dựng và nhân rộng các mô hình phối hợp liên ngành hiệu quả giữa VKSNDCQĐT tại tỉnh Ninh Bình là vô cùng cần thiết. Cần tổ chức các cuộc họp liên ngành định kỳ để trao đổi thông tin, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và thống nhất quan điểm xử lý đối với các vụ việc phức tạp. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, theo dõi tin báo là một xu hướng tất yếu. Xây dựng phần mềm quản lý án dùng chung, cho phép VKSNDCQĐT cập nhật và theo dõi tiến độ giải quyết theo thời gian thực sẽ giúp tăng tính minh bạch và hiệu quả. Cuối cùng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót, vi phạm trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

4.1. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ Kiểm sát viên

Việc tổ chức các lớp tập huấn, tọa đàm chuyên đề về các loại tội phạm mới, các phương pháp xác minh, thu thập chứng cứ điện tử là rất quan trọng. Cần khuyến khích Kiểm sát viên tự học, tự nghiên cứu để cập nhật kiến thức pháp luật tố tụng hình sự và các lĩnh vực liên quan. Lãnh đạo VKSND các cấp cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng các bản yêu cầu xác minh, văn bản kiểm sát để hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ kịp thời.

4.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giám sát

Việc số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu về tố giác, tin báo tội phạm sẽ giúp việc tra cứu, tổng hợp, thống kê trở nên nhanh chóng và chính xác. Phần mềm quản lý cần có chức năng cảnh báo tự động khi một vụ việc sắp hết hạn giải quyết, giúp lãnh đạo và Kiểm sát viên chủ động đôn đốc, chỉ đạo, đảm bảo không để xảy ra tình trạng quá hạn do lỗi chủ quan, nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

V. Phân tích thực tiễn kiểm sát giải quyết tố giác tại Ninh Bình

Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại địa bàn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2016-2021 đã cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận. Theo số liệu trong luận văn, VKSND hai cấp tỉnh Ninh Bình đã chủ động kiểm sát 100% các tin báo, tố giác về tội phạm được thụ lý. Chất lượng các văn bản yêu cầu kiểm tra, xác minh ngày càng được nâng cao, bám sát vào các vấn đề trọng tâm cần làm rõ. Mối quan hệ phối hợp với CQĐT cùng cấp được củng cố, nhiều đơn vị đã xây dựng và thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp liên ngành. Qua công tác kiểm sát, VKS hai cấp đã phát hiện và ban hành nhiều kiến nghị yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm trong việc tiếp nhận, phân loại và giải quyết tin báo, góp phần chấn chỉnh hoạt động của cơ quan điều tra. Tỷ lệ giải quyết tin báo, tố giác đúng hạn được nâng lên. Đặc biệt, thông qua hoạt động này, nhiều vụ án phức tạp đã được khởi tố điều tra kịp thời, không để lọt tội phạm, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Những kết quả này khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của VKSND trong giai đoạn đầu của tố tụng hình sự. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, thực tiễn tại Ninh Bình cũng bộc lộ những hạn chế đã được phân tích, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ toàn ngành Kiểm sát.

5.1. Thống kê số liệu giải quyết tố giác tin báo từ 2016 2021

Luận văn cung cấp bảng số liệu cho thấy số lượng tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà VKSND hai cấp tỉnh Ninh Bình thụ lý kiểm sát có xu hướng tăng qua các năm. Điều này phản ánh tình hình tội phạm diễn biến phức tạp nhưng cũng cho thấy sự tin tưởng của người dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật. Phân tích số liệu cho thấy, tỷ lệ các tin báo được giải quyết bằng quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố đều được kiểm sát chặt chẽ, đảm bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật.

5.2. Các mô hình phối hợp hiệu quả giữa VKSND và Cơ quan điều tra

Tại Ninh Bình, một số đơn vị VKS cấp huyện đã chủ động xây dựng các mô hình phối hợp hiệu quả với CQĐT. Điển hình là việc tổ chức các cuộc họp giao ban định kỳ hàng tháng hoặc đột xuất để đánh giá tình hình và thống nhất hướng giải quyết các vụ việc phức tạp. Việc phân công Kiểm sát viên và Điều tra viên cùng nghiên cứu hồ sơ ngay từ đầu đã giúp đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xác minh. Những mô hình này cần được tổng kết và nhân rộng để cải thiện công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trên toàn tỉnh.

VI. Định hướng tương lai cho công tác kiểm sát giải quyết tố giác

Trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cần có những định hướng phát triển mới để đáp ứng yêu cầu tình hình. Trọng tâm là phải tiếp tục khẳng định và đề cao vai trò, trách nhiệm của VKSND là cơ quan chủ trì, "gác gôn" trong hoạt động tư pháp hình sự. Cần chuyển từ tư duy kiểm sát thụ động, chờ hồ sơ từ CQĐT sang chủ động nắm bắt thông tin, kiểm sát ngay từ khi nguồn tin được phát hiện. Tương lai của hoạt động này gắn liền với việc tăng cường thực hành quyền công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra. Kiểm sát viên không chỉ là người giám sát mà còn phải là người định hướng hoạt động xác minh, điều tra ngay từ đầu. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích dữ liệu tội phạm, nhận diện các nguồn tin có độ tin cậy cao là một hướng đi tiềm năng. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong việc xác minh thông tin, tương trợ tư pháp đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Kiểm sát mà cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhằm xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý và quyền con người.

6.1. Tăng cường thực hành quyền công tố gắn với hoạt động điều tra

Định hướng này đòi hỏi sự thay đổi trong nhận thức và phương pháp làm việc của Kiểm sát viên. Thay vì chỉ xem xét hồ sơ do CQĐT chuyển sang, Kiểm sát viên cần chủ động tham gia vào quá trình xác minh, trực tiếp hỏi người tố giác, người bị tố giác khi cần thiết. Việc gắn chặt quyền công tố với điều tra từ giai đoạn đầu sẽ đảm bảo các chứng cứ được thu thập đầy đủ, khách quan, tạo tiền đề vững chắc cho việc truy tố và xét xử sau này.

6.2. Kiến nghị và giải pháp tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác

Dựa trên nghiên cứu thực tiễn tại Ninh Bình, giải pháp tổng thể bao gồm ba trụ cột: (1) Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự để tạo hành lang pháp lý đầy đủ; (2) Nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ VKSNDCQĐT; (3) Hiện đại hóa cơ sở vật chất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Sự kết hợp đồng bộ của ba yếu tố này sẽ tạo ra bước chuyển biến căn bản về chất lượng trong công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Kiểm sát việc giải quyết tố giác tin báo về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh ninh bình luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm - Chương 2: thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại địa bàn tỉnh ninh bình và các giải pháp CHUONG 1: MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHAP LUAT TO TUNG HINH SU VE KIEM SAT VIEC GIAI QUYET TO GIAC, TIN BAO VE TOI PHAM 1. Một số vẫn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm 1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm > Khái niệm tô giác, tin báo về tội phạm Tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố là nguồn thông tin quan trọng, là cơ sở ban đầu để cơ quan tiến hành tố tụng xác minh các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự và tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo. Theo Từ điển Tiếng Việt: “fin là điều được truyén đi, báo cho biết về sự việc, tình hình xảy ra” [34, tr 993].

Cũng theo nghĩa phổ thông thì tố cáo và tố giác cũng có nghĩa là bảo cho cơ quan có thẩm quyên biết về người hoặc hành động phạm pháp. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, tố cáo và tố giác về tội phạm không đồng nhất. Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo 2018 đã định nghĩa như sau: “Tổ cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vì vi phạm pháp luật của bắt kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ”[19, khoản 1 Điều 2]. Như vậy, chủ thê của hành vi tố cáo là công dân và đối tượng của tố cáo là bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào.

Trong khi đó, tố giác về tội phạm có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là báo cho cơ quan có thâm quyền về hành vi có dấu hiệu tội phạm. Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn các yếu tô câu thành tội phạm được quy định trong BLHS. Do vậy, có thể thấy khái niệm tố cáo bao hàm các khái niệm tô giác về tội phạm Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: “7ố cáo là quyền của công dân, còn tô giác về tội phạm vừa là quyên, vừa là nghĩa vụ của công dân ”[2.Như vậy, việc tố cáo hành vi phạm pháp luật hay không là sự lựa chọn của công dân. Trong khi đó, tố giác về tội phạm còn là nghĩa vụ của công dân Pháp luật hình sự cũng đã tội phạm hóa hành vi không tổ giác tội phạm.

Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm. Hiện nay, khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đã được đưa ra trong BLTTHS. Theo khoản I Điều 144 BLTTHS năm 2015: “tổ giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tổ cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyên ”[19, khoản 1 Điều 144]; khoản 2 Điều 144 BLTTHS năm 2015: “Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm đo cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyên hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tín đại chúng ”[19, khoản 2 Điều 144]. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm trong BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm tương đồng và khác biệt với khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đã được đưa ra trong một số công trình khoa học hiện nay.

Trong bài viết của mình tại Tạp chí Viện kiểm sát,tác giả Lê Ra đưa ra định nghĩa cho tố giác, tin báo về tội phạm như sau: “Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh vỀ tội phạm xảy ra cho cơ quan thẩm quyên giải quyết theo quy định của BLTTHS. Tố giác vỀ tội phạm được hiểu là việc cá nhân phát hiện, to cdo người phạm tội hoặc hành vì có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có tham quyên giải quyết theo quy định của BLTTHS |9, tr 37] Tác giả Hoàng Huy Hiệp trên số Ø7, Tạp chí Viện Kiểm Sát 2015 thì định nghĩa như sau: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu về tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyiết ”[1, tr 18] Theo Từ điển Pháp luật Việt Nam thì: “?r báo về tội phạm là thông tin về Vụ Việc CÓ dấu hiệu tội phạm đo cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyên hoặc thông thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng”; “tô giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tổ cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền ”113, tr201] Về cơ bản, các khái niệm đều thống nhất chủ thể của tố giác về tội phạm là cá nhân và đối tượng của tổ giác về tội phạm là hành vi có dấu hiệu tội phạm. Các khái niệm cũng đều thống nhất tin báo, tố giác về tội phạm là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm.Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả Ngô Long Khánh định nghĩa: “Tin báo, tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau, do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thủ dé cho co quan co trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS”[10, tr 13] Trong luận văn của mình, tác giả Nguyễn Quang Hòa cho rằng: “cần hiểu bản chất của tin báo do công dân hoặc cá nhân cung cấp là tô giác tội phạm ” (14, tr 13].O khia cạnh nhất định, tác giả đồng tình với quan điểm này. Ví dụ, khi cá nhân báo tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong đó chỉ ra hành vi có dấu hiệu tội phạm, như hành vi cướp, cỗ ý gây thương tích và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì đây chính là tố giác về tội 10 pham.

Nếu một cá nhân có chức vụ, như Chủ tịch HĐND huyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhân danh cơ quan, tô chức để tố cáo một hành vi có dấu hiệu tội phạm thì đây chính là tin báo về tội phạm do cơ quan, tô chức cung cấp. Tuy nhiên, nếu người có chức vụ đó nhân danh cá nhân mình đề tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm thì được coi là tố giác về tội phạm hay tin báo về tội phạm? Theo quan điểm của tác giả, đây chính là trường hợp tổ giác về tội phạm vi thỏa mãn dấu hiệu chủ thể là cá nhân, không quan trọng cá nhân đó thực hiện hành vi tố cáo về hành vi có dấu hiệu tội phạm với tư cách là một công dân bình thường hay với tư cách là một người đang nắm giữ chức vụ. Tuy nhiên, trên thực tiễn cũng xảy ra trường hợp, cá nhân phát hiện ra một vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng không xác định được người nào có hành vi có dấu hiệu tội phạm mà chỉ có thể báo tin với cơ quan nhà nước có thâm quyền về vụ việc này. Ví dụ một cá nhân phát hiện ra một xác chết đang bị phân hủy trong một vườn cây bỏ hoang và báo cho công an xã.

Vậy trường hợp này cần coi là tin báo hay tố giác về tội phạm? Tác giả luận văn cho răng để được coi là tố giác về tội phạm, cá nhân báo tin cần phải chỉ ra hành vi có dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm này. Do vậy, nếu cá nhân chỉ báo tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm, như vụ xác chết trong vườn cây bỏ hoang vừa nêu trên, thì cần được coi là tin báo về tội phạm. Từ những phân tích trên có thê đưa ra định nghĩa về tin báo, tố giác về tội phạm như sau: Tin báo về tội phạm là những thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan nhà nước có thầm quyền băng bất kỳ hình thức hoặc phương thức truyền tin nào. Tin báo về tội phạm có thê được truyên tải trên các phương tiện thông tin đại chúng.

11 Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ huật hình sự do cá nhân cung cấp cho cơ quan nhà nước có thâm quyên. > Khái niệm giải quyết tô giác, tin báo về tội phạm Mặc dù có những đặc điểm khác nhau nhưng tin báo, tố giác về tội phạm đều có chung một bản chất là nguồn thông tin về tội phạm, và chính vì cùng chung đối tượng phản ánh là về vấn đề tội phạm nên yêu cầu phải được tiếp nhận, giải quyết theo một trình tự luật định. Trên thực tế, chất lượng thông tin được cung cấp thông qua hoạt động cung cấp tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố thường không đồng đều. Trong nhiều trường hợp, vì lý do khác nhau, những thông tin được chuyền tải đến cơ quan có thâm quyền không được chính xác và đầy đủ.

Đồng thời, trong nhiều trường hợp, các thông tin do người tổ giác hoặc báo tin cung cấp có thể chưa đủ cơ sở để xác định đầy đủ các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đây là những nguồn thông tin ban đầu giúp cho các cơ quan có thâm quyên tiến hành tố tụng tiễn hành các thủ tục nhăm xác minh sự thật khách quan để xác định căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ