phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận, thực tiễn về chất lƣợng giáo dục đại học. Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm định chất lƣợng dịch vụ giáo dục đại học ở ĐHQGHN hiện nay. Chƣơng 4: Đề xuất, Khuyến nghị giải pháp hoàn thiện công tác kiểm định chất lƣợng dịch vụ giáo dục đại học ở ĐHQGHN.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong bất kỳ thời đại nào hay ở bất kỳ quốc gia nào, chất lƣợng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nƣớc. Đất nƣớc thịnh hay suy, yếu hay mạnh, phụ thuộc phần lớn vào chất lƣợng sản phẩm giáo dục. Đối với các trƣờng đại học cũng nhƣ các cơ sở đào tạo hiện nay, phấn đấu nâng cao chất lƣợng đào tạo luôn đƣợc xem là nhiệm vụ quan trọng nhất.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về kiểm định chất lƣợng giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học nhận đƣợc rất nhiều quan tâm và có nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện. Mỗi nghiên cứu tiếp cận ở một khía cạnh khác nhau của công tác kiểm định chất lƣợng giáo dục. Dƣới đây xin đƣợc liệt kê một vài nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủ đề này. Trong nghiên cứu của mình năm 2013, tác giả Phạm Xuân Thanh đã khái quát hệ thống ĐBCL giáo dục mà Việt Nam đang xây dựng gồm 3 cấu phần: Hệ thống ĐBCL bên trong của trƣờng; Hệ thống ĐBCL bên ngoài trƣờng (bao gồm các chủ trƣơng chính sách, quy trình và công cụ đánh giá); Hệ thống các tổ chức ĐBCL bên ngoài (hay còn gọi là các tổ chức kiểm định chất lƣợng giáo dục).
Việc xây dựng một hệ thống ĐBCL và kiểm định chất lƣợng giáo dục ở cấp quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lƣợng giáo dục ở Việt Nam. Hệ thống ĐBCL và kiểm định chất lƣợng giáo dục sẽ cung cấp các cơ sở đề Nhà nƣớc đƣa ra các chính sách đầu tƣ hiệu quả cho hệ thống giáo dục, sinh viên dễ dàng định hƣớng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp hoặc mong muốn tiếp tục nâng cao trình độ. Các nhà tuyển dụng dễ dàng lựa chọn đƣợc những cán bộ có chuyên môn, tiết kiệm đáng kể chi phí đào tạo lại cho nhân viên mới tuyển dụng (Phạm Xuân Thanh, 2014). 5 Tác giả Yung-Chi Hou (angela) (2011) và cộng sự trong nghiên cứu về ĐBCL của Đài Loan đã đƣa ra quan điểm về ảnh hƣởng của ĐBCL trong đó kiểm định chất lƣợng giáo dục dẫn đến các quyết định về chính sách giáo dục ở Đài Loan.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra KĐCLGD đã tác động đến chất lƣợng giảng dạy và học tập, đặc biệt là tác động đến chất lƣợng chung của các chƣơng trình đào tạo (Tạ Thị Thu Hiền, 2012). Tác giả Lee Harvey (2006) trong nghiên cứu về tác động của ĐBCL trong giáo dục đại học đã chỉ ra mối liên hệ giữa KĐCLGD đến sự thay đổi về chất lƣợng của trƣờng đại học (Lee Harvey, 2006). Nguyễn Hải Long (2013) trong nghiên cứu về ảnh hƣởng của công tác kiểm định chất lƣợng dạy nghề đối với phƣơng pháp giảng dạy đã chỉ ra sự ảnh hƣởng của công tác kiểm định chất lƣợng dạy nghề đối với phƣơng pháp giảng dạy của học viên. Đề tài đã đánh giá mức độ thành thạo các phƣơng pháp giảng dạy của giảng viên, mức độ áp dụng các phƣơng pháp giảng dạy của học viên và mức độ sử dụng các công cụ hỗ trợ trong quá trình giảng dạy của giảng viên trƣớc và sau khi đƣợc kiểm định chất lƣợng.
Đồng thời đề tài cũng đánh giá chung về mức độ ảnh hƣởng của các công tác kiểm định chất lƣợng dạy nghề đối với phƣơng pháp dạy của giảng viên (Lê Đức Ngọc, 2004). Theo tác giả Lê Văn Hảo (2011), một trƣờng đại học có thể có một hệ thống ĐBCL bên trong tốt mà không thực hiệm Kiểm định chất lƣợng, tuy nhiên rất khó để có một trƣờng đại học đƣợc kiểm định chất lƣợng mà ở đó không có một hệ thống ĐBCL bên trong hiệu quả. Luận điểm này của tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ĐBCL bên trong trong đó có hoạt động tự đánh giá và cải tiến chất lƣợng. Việc đánh giá ngoài và đăng ký kiểm định chất lƣợng để đƣợc công nhận chất lƣợng chỉ có ý nghĩa khi trƣờng đại học cam kết cải tiến chất lƣợng (Lê Văn Hảo, 2012).
Tác giả Nguyễn Phƣơng Nga (2007) khi nghiên cứu về “Tác động của tự đánh giá để kiểm định chất lƣợng tới cán bộ và giảng viên các trƣờng đại học” đã đƣa ra những đánh giá cơ bản về tác động của công tác tự đánh giá để kiểm định chất lƣợng đến cán bộ và giản viên trƣờng đại học khu vực Hà Nội. Trong đề tài này, tác giả đã 6 đƣa ra những kết luận cơ bản về những đổi mới trong nhận thức của cán bộ, giảng viên tại những trƣờng đại học tiến hành tự đánh giá (Nguyễn Phƣơng Nga, 2007). Nguyễn Phƣơng Nga (2009) đã nghiên cứu về tác động của văn bản pháp quy về kiểm định chất lƣợng tới các trƣờng đại học ở Việt Nam đã chỉ rõ các văn bản pháp quy về kiểm định chất lƣợng đã tạo ra những tác động tới các trƣờng đại học ở việt nam theo bốn nhóm tác động: tác động đến việc quản trị của trƣờng; tác động tới sinh viên; Tác động đến giảng viên; tác động tới văn hóa của trƣờng Đại học. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả đã đã nêu ra các tác động cụ thể tới từng đối tƣợng nhƣng chƣa cung cấp các số liệu cụ thể về mức độ tác động của các văn bản pháp quy về kiểm KĐCLGD đến từng nhóm đối tƣợng theo phân chia.
Có thể nói mỗi nƣớc có lựa chọn khác nhau cho việc ĐBCL giáo dục đại học. Việt Nam lựa chọn chính sách KĐCLGD là bắt buộc đối với trƣờng đại học giúp các trƣờng đại học giải trình và cam kết với xã hội về chất lƣợng. Tuy nhiên, nghiên cứu về kiểm định chất lƣợng dịch vụ giáo dục đại học ở Việt Nam chƣa nhiều và nghiên cứu một cách hệ thống về kiểm định chất lƣợng dịch vụ giáo dục đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội thì chƣa có. Cơ sở lý luận về kiểm định chất lƣợng dịch vụ giáo dục đại học 1.
Một số khái niệm cơ bản Chất lượng Chất lƣợng luôn là vấn đề quan tâm nhất đối với tất cả các ngành, các lĩnh vực. Nhƣng chất lƣợng lại là một khái niệm rất không rõ ràng, thông thƣờng mỗi ngƣời nhận thức theo một kiểu khác nhau, tuỳ theo thời kỳ khái niệm chất lƣợng cũng có những biến chuyển. Để đi đến một nhận thức đúng đắn, khoa học về khái niệm “chất lƣợng” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, trƣớc hết chúng ta cần tìm hiểu một số quan niệm về “chất lƣợng” trong lĩnh vực kinh tế. Có thể nói rằng vấn đề chất lƣợng trong thời đại ngày nay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ.
Không ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm là mục tiêu sống còn của các doanh nghiệp. Song quan niệm về chất lƣợng cho đến hiện nay vẫn chƣa có 7 sự thống nhất. Chất lƣợng thông thƣờng đƣợc hiểu nhƣ một cái gì đó mang hàm ý tuyệt đối hoặc tuyệt hảo, khó có thể đạt tới đƣợc. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, quan niệm về chất lƣợng luôn gắn với việc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ và chất lƣợng thƣờng đƣợc gắn chính bằng sự hài lòng của khách hàng.
Tất nhiên không chỉ nghe ý kiến của khách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ là đủ mà các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ còn phải lƣu tâm giải quyết nhiều vấn đề khác. Hiện nay duy trì chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng không còn là chuyện mới, trong chúng ta ai cũng biết bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải đạt đƣợc những chuẩn mực chất lƣợng nhất định, tạo ra sự hài lòng của khách hàng, cung cấp dịch vụ hoàn hảo mới có thể tiêu thụ đƣợc sản phẩm. Chất lƣợng đƣợc duy trì ổn định sẽ tạo lòng tin trong khách hàng chính thông qua hình thức kiểm tra chất lƣợng, những sản phẩm nào đáp ứng đƣợc các chuẩn mực của chất lƣợng thì đƣợc lƣu hành, những sản phẩm nào không ĐBCL thì bị loại bỏ. Song đây chỉ là một khâu kiểm tra chất lƣợng sản phẩm trong một dây truyền sản xuất khép kín vì thƣờng gây lãng phí bởi các sản phẩm bị loại bỏ khá nhiều.
Nên có thể hiểu một cách sơ bộ rằng muốn có một sản phẩm có chất lƣợng, đòi hỏi phải có các điều kiện đảm bảo nó trong cả một công nghệ dây truyền sản xuất khép kín. Để đƣa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về chất lƣợng quả thực là điều không đơn giản, mà lý do chính ở chỗ ý tƣởng về chất lƣợng là rất rộng, quan niệm chất lƣợng nhiều khi mang tính cảm tính và đạo đức nhiều hơn những chỉ số khách quan. Nên ngay trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ cũng có cách quan niệm về chất lƣợng khác nhau. Dƣới đây là một vài định nghĩa về chất lƣợng.
1 – Chất lƣợng là “Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu ngƣời sử dụng” (Tiêu chuẩn pháp – NFX 50 – 109). 2 - Theo định nghĩa của ISO 9000 – 2000 “Chất lƣợng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. 8 3 - Theo tổ chức ĐBCL giáo dục đại học quốc tế (IQAAHE – International Network of Quality Assuaance Agencies in Higher Education), đã đƣa ra hai khái niệm chất lƣợng giáo dục. - Tuân theo các chuẩn quy định.
- Đạt đƣợc các mục tiêu đề ra. Qua phân tích các quan niệm về chất lƣợng trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ có thể đi đến định nghĩa nhƣ sau: Chất lượng là cái làm hài lòng, vượt qua những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Muốn có sán phẩm hay dịch vụ có chất lượng thì những sản phẩm hay dịch vụ đó phải đạt được những chuẩn mực đã được định sẵn.