Luận án tiến sĩ về kịch bản phim truyện điện ảnh như một thể loại văn học

Khám phá luận án tiến sĩ về ngữ văn kịch bản phim truyện điện ảnh, phân tích vai trò và giá trị của thể loại văn học này trong nghệ thuật.

Chuyên ngành

Lí Luận Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

208
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp mới của luận án

1.6. Cấu trúc luận án

1.7. Kịch bản như là một thành tố của phim truyện điện ảnh

1.8. Phim truyện điện ảnh như một phương thức kể chuyện

1.9. Kịch bản - khâu khởi đầu của phim truyện điện ảnh

1.10. Những công trình nghiên cứu kịch bản phim truyện điện ảnh

1.11. Nghiên cứu kịch bản phim truyện điện ảnh trong những công trình nghiên cứu nghệ thuật điện ảnh

1.12. Nghiên cứu kịch bản phim truyện điện ảnh trong những công trình nghiên cứu liên ngành văn học - điện ảnh và trong nghiên cứu văn học

1.13. Nghiên cứu kịch bản phim truyện điện ảnh như một thể loại văn học: Vấn đề nguyên tắc xác lập thể loại

1.14. Vấn đề thể loại văn học

1.15. Quan điểm nghiên cứu kịch bản phim truyện điện ảnh như là một thể loại văn học

1.16. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KỊCH BẢN PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH NHƯ LÀ MÔ HÌNH THẾ GIỚI QUAN

2.1. Tiếp cận đời sống ở những xung đột, mâu thuẫn hay là dấu ấn tư duy kịch bản sân khấu trong kịch bản phim truyện điện ảnh

2.2. Tính chất kịch tính trong kịch bản phim truyện điện ảnh

2.3. Mức độ kịch tính trong kịch bản phim truyện điện ảnh

2.4. Tiếp cận đời sống ở thì hiện tại chưa hoàn thành hay là dấu ấn tư duy tiểu thuyết trong kịch bản phim truyện điện ảnh

2.5. Thế giới chưa ngã ngũ, chưa hoàn kết

2.6. Tính chất đời thường

2.7. Giới hạn tiếp xúc đời sống và những xu hướng chính của kịch bản phim truyện điện ảnh

2.8. Xu hướng kịch hóa

2.9. Xu hướng tiểu thuyết hóa

2.10. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: KỊCH BẢN PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH NHƯ LÀ MÔ HÌNH GIAO TIẾP

3.1. Đối tượng giao tiếp của kịch bản phim truyện điện ảnh

3.2. Cộng đồng làm phim và khán giả mục tiêu

3.3. Người đọc tự do

3.4. Tính biểu hành của kịch bản phim truyện điện ảnh và vai trò của tác giả

3.5. Tính biểu hành của kịch bản phim truyện điện ảnh

3.6. Vai trò của tác giả kịch bản phim truyện điện ảnh

3.7. Tính tạo sinh của kịch bản phim truyện điện ảnh và số phận của tác giả

3.8. Số phận tác giả kịch bản phim truyện điện ảnh

3.9. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: KỊCH BẢN PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH NHƯ LÀ MÔ HÌNH TỰ SỰ

4.1. Cấu trúc trần thuật của kịch bản phim truyện điện ảnh

4.2. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba

4.3. Góc quay như một điểm nhìn

4.4. Trường đoạn và nhịp điệu tự sự trong kịch bản phim truyện điện ảnh

4.5. Trường đoạn

4.6. Nhịp điệu tự sự

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kịch bản phim truyện điện ảnh Thể loại văn học độc đáo

Kịch bản phim truyện điện ảnh là một thể loại văn học độc đáo, kết hợp giữa nghệ thuật viết kịch và điện ảnh. Nó không chỉ đơn thuần là một bản thảo cho phim mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn học riêng. Kịch bản không chỉ định hình câu chuyện mà còn tạo ra không gian cho các nhân vật phát triển và tương tác. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo, kịch bản phim truyện điện ảnh có thể được xem như một hình thức kể chuyện độc đáo, mang lại trải nghiệm sâu sắc cho khán giả.

1.1. Kịch bản phim Đặc điểm và vai trò trong điện ảnh

Kịch bản phim không chỉ là văn bản mà còn là nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất phim. Nó định hình cốt truyện, nhân vật và các yếu tố nghệ thuật khác. Kịch bản giúp các nhà làm phim hiểu rõ hơn về thông điệp và cảm xúc mà họ muốn truyền tải đến khán giả.

1.2. Sự phát triển của kịch bản phim trong văn học

Kịch bản phim đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những tác phẩm đầu tiên đến những kịch bản hiện đại. Sự phát triển này phản ánh sự thay đổi trong cách kể chuyện và nhu cầu của khán giả. Các nhà biên kịch ngày nay thường kết hợp nhiều yếu tố văn học để tạo ra những tác phẩm phong phú và đa dạng.

II. Những thách thức trong việc viết kịch bản phim truyện điện ảnh

Viết kịch bản phim truyện điện ảnh không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Các nhà biên kịch phải đối mặt với nhiều thách thức, từ việc phát triển cốt truyện hấp dẫn đến việc xây dựng nhân vật có chiều sâu. Một trong những vấn đề lớn nhất là làm sao để kịch bản vừa đáp ứng được yêu cầu nghệ thuật, vừa thu hút được khán giả. Theo nghiên cứu, việc thiếu xung đột và mâu thuẫn trong kịch bản có thể dẫn đến sự nhàm chán cho người xem.

2.1. Vấn đề xung đột trong kịch bản

Xung đột là yếu tố cốt lõi trong bất kỳ câu chuyện nào. Kịch bản thiếu xung đột sẽ không thể tạo ra sự hấp dẫn cần thiết. Các nhà biên kịch cần phải khéo léo xây dựng các tình huống xung đột để giữ chân khán giả.

2.2. Xây dựng nhân vật trong kịch bản phim

Nhân vật là linh hồn của kịch bản. Việc xây dựng nhân vật có chiều sâu và phát triển tâm lý phức tạp là một thách thức lớn. Các nhà biên kịch cần phải tạo ra những nhân vật mà khán giả có thể đồng cảm và kết nối.

III. Phương pháp viết kịch bản phim truyện điện ảnh hiệu quả

Để viết một kịch bản phim truyện điện ảnh thành công, các nhà biên kịch cần áp dụng những phương pháp hiệu quả. Một trong những phương pháp phổ biến là mô hình ba hồi, giúp cấu trúc câu chuyện một cách hợp lý và hấp dẫn. Ngoài ra, việc nghiên cứu các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng cũng giúp các biên kịch rút ra được nhiều bài học quý giá.

3.1. Mô hình ba hồi trong kịch bản

Mô hình ba hồi là một trong những cấu trúc phổ biến nhất trong viết kịch bản. Nó giúp tạo ra một dòng chảy câu chuyện mạch lạc, với các cao trào và điểm nhấn rõ ràng. Mô hình này đã được áp dụng thành công trong nhiều bộ phim nổi tiếng.

3.2. Nghiên cứu và phân tích kịch bản phim thành công

Nghiên cứu các kịch bản phim thành công giúp các biên kịch hiểu rõ hơn về cách xây dựng cốt truyện và nhân vật. Việc phân tích các yếu tố thành công trong những tác phẩm này có thể cung cấp những gợi ý quý giá cho quá trình sáng tác.

IV. Ứng dụng thực tiễn của kịch bản phim truyện điện ảnh

Kịch bản phim truyện điện ảnh không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong ngành công nghiệp điện ảnh. Nó là công cụ quan trọng giúp các nhà sản xuất, đạo diễn và diễn viên hiểu rõ hơn về dự án của mình. Hơn nữa, kịch bản còn có thể được sử dụng trong giáo dục và nghiên cứu văn học.

4.1. Kịch bản như công cụ sản xuất phim

Kịch bản là tài liệu quan trọng trong quá trình sản xuất phim. Nó giúp các thành viên trong đoàn làm phim có cái nhìn tổng quan về dự án và đảm bảo rằng mọi người đều đi đúng hướng.

4.2. Giá trị giáo dục của kịch bản phim

Kịch bản phim có thể được sử dụng như một công cụ giáo dục, giúp sinh viên và học viên hiểu rõ hơn về nghệ thuật viết kịch và điện ảnh. Việc phân tích kịch bản cũng giúp phát triển kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo.

V. Kết luận Tương lai của kịch bản phim truyện điện ảnh

Kịch bản phim truyện điện ảnh đang ngày càng phát triển và đổi mới. Với sự tiến bộ của công nghệ và sự thay đổi trong nhu cầu của khán giả, các nhà biên kịch cần phải linh hoạt và sáng tạo hơn bao giờ hết. Tương lai của kịch bản phim sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các nhà biên kịch trong việc kể chuyện.

5.1. Xu hướng mới trong viết kịch bản

Các xu hướng mới trong viết kịch bản đang nổi lên, bao gồm việc sử dụng công nghệ số và các phương pháp kể chuyện tương tác. Những xu hướng này mở ra nhiều cơ hội mới cho các nhà biên kịch.

5.2. Tầm quan trọng của kịch bản trong tương lai điện ảnh

Kịch bản sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp điện ảnh. Nó không chỉ là nền tảng cho các bộ phim mà còn là cầu nối giữa nghệ thuật và khán giả.

16/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Kịch bản như là một thành tố của phim truyện điện ảnh 1. Phim truyện điện ảnh như một phương thức kể chuyện Điện ảnh thường được hiểu là một khái niệm lớn, bao gồm “các bộ phim tạo bởi những khung hình chuyển động (phim); kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh và ánh sáng để tạo thành một bộ phim (kỹ thuật điện ảnh); hình thức nghệ thuật liên quan đến việc tạo ra các bộ phim và ngành công nghiệp thương mại liên quan đến các công đoạn làm, quảng bá và phân phối phim ảnh (công nghiệp điện ảnh)” [136]. Người ta quen gọi điện ảnh là nghệ thuật thứ bảy, bên cạnh những loại hình nghệ thuật ra đời trước đó: thơ văn, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, vũ kịch (khiêu vũ, sân khấu) và kiến trúc theo quan điểm của nhà triết học người Đức ­ Georg Wilhelm Friedrich Hegel.

Điện ảnh được coi là nghệ thuật tổng hợp khi nó kế thừa và phát huy tinh hoa ngôn ngữ nghệ thuật của tất cả các loại hình nghệ thuật còn lại. Là môn nghệ thuật đa phương tiện, nghệ thuật nghe ­ nhìn, hay một nền công nghiệp giải trí hàng đầu thế giới. điện ảnh tiến bước, gắn với sự phát triển về máy móc, công nghệ ghi hình và thu thanh, đồng thời các nhà làm phim đã không còn dừng lại ở kênh nghe ­ nhìn mà đang nỗ lực mang lại nhiều chiều cảm xúc bằng việc tìm cách mở rộng thêm các kênh giác quan của người tiếp nhận. Điện ảnh ­ nghệ thuật thứ bảy, là bộ môn tổng hợp nhiều dạng thức ngôn ngữ, sử dụng những thuộc tính của các ngành nghệ thuật khác và lấy yếu tố kỹ thuật, công nghệ làm nền tảng quan trọng để tạo đà phát triển.

Ngôn ngữ đặc trưng của điện ảnh là hình ảnh động, kết hợp với âm thanh cùng nhiều yếu tố kỹ thuật khác được sắp xếp với nhau một cách hợp lí để tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Sự ra đời điện ảnh trở thành một bước ngoặt kể chuyện quan trọng của loài người. Lịch sử loài người ban đầu chưa có chữ viết, những câu chuyện được truyền miệng ­ kể bằng lời nói. Hầu hết các quốc gia đều tồn tại nền văn học dân gian truyền miệng riêng mình.

Ví như Arập xa xưa có rất nhiều thơ ca truyền miệng, nhiều thi sĩ dân gian và “họ thường ngâm thơ cho các bộ lạc du mục nghe” [150; tr. Hai bộ sử thi đồ sộ của Ấn Độ (Mahabharata và Ramayana) khởi điểm cũng là tác phẩm truyền miệng. Thần thoại Hy Lạp ­ tập hợp đồ sộ truyện kể về những vị thần, người anh hùng và sinh vật thần thoại ­ được kể với hình thức đầu tiên là thơ 8 ca truyền miệng… Ngoài chất liệu ngôn ngữ, con người kể chuyện bằng đa dạng các hình thức: hình vẽ khắc trong hang núi, những bài dân ca, các điệu nhạc, tranh ảnh trên bình gốm, đồ tế lễ… Chữ viết ra đời là khúc ngoặt kể chuyện lớn lao của nhân loại. Hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người ra đời vào thời điểm cuối thiên niên kỷ thứ ba Trước công nguyên, tại vùng Sumer (Lưỡng Hà) [247].

Khi có chữ viết, con người kể chuyện bằng những lời văn. Khoảng 20 thế kỷ tiếp theo, nghệ thuật kể chuyện phát triển đỉnh cao với thể loại tiểu thuyết. Không chỉ vậy, với nhu cầu chia sẻ ở những mức độ khác nhau, các câu chuyện được kể bằng nhiều loại chất liệu đa dạng đã phát triển tinh hoa thành nghệ thuật: bằng màu sắc, đường nét trong hội họa; tiết tấu, nhịp điệu, âm vực trong âm nhạc; nghệ thuật diễn xuất của diễn viên tại bối cảnh nhất định ở sân khấu; hình ảnh tĩnh trong nhiếp ảnh… Điện ảnh ra đời, bắt đầu thời kỳ loài người kể chuyện bằng hình ảnh động. Có ý kiến cho rằng: trong việc kể chuyện thì ngôn từ và hình ảnh có mối quan hệ từ khởi nguyên của nhiều nền văn minh ­ một số sinh viên và học giả điện ảnh tìm thấy “mối tương kết ban đầu giữa điện ảnh và văn học từ những hình ảnh trong hang động thời tiền sử, những biểu tượng Ai Cập, hay nhiều nét thư pháp trong các nền văn minh sơ khai, chẳng hạn như chữ tượng hình Trung Quốc” [214; tr.

Các nhà sử học và phê bình tìm thấy nỗ lực rất sớm của loài người trong việc ghi lại hệ thống các sự kiện, kể chuyện, hoặc khơi dậy sức mạnh tâm linh với phong cách giống như “người ta dùng trong điện ảnh nhiều thế kỷ sau, nhằm giới thiệu về lịch sử của mình, kể lại chuyện của mình” [214; tr. Điện ảnh là môn nghệ thuật hình ảnh, nảy sinh từ sự gợi ý của thành tựu, sức hấp dẫn ở nghệ thuật nhiếp ảnh. Đầu thế kỷ 19, các nhà khoa học đã phát hiện ra một hiện tượng rất lí thú về đôi mắt của con người: khả năng lưu lại hình ảnh sự vật, hiện tượng trong khoảng một phần nhỏ của giây sau khi sự vật ấy đã dời đi, gọi là sự lưu ảnh (Persistence of vision). Mắt người có khả năng nhận ra những dư ảnh ­ lưu ảnh, đó là tiền đề, nguồn động lực cho những thử nghiệm kỹ thuật phim ảnh trong suốt thế kỷ trước [10].

Nếu nhiếp ảnh là bức ảnh tĩnh thì điện ảnh lại là nghệ thuật của hình ảnh động. Lịch sử ra đời và phát triển điện ảnh gắn liền sự ra đời máy quay phim và những bước tiến của kỹ thuật ghi hình. Năm 1888, cuốn phim đầu tiên xuất hiện tại Anh, là thử nghiệm của nhà phát minh Louis Le Prince. Tuy nhiên, do kỹ thuật hạn chế, tốc độ ghi hình mới chỉ dừng lại ở mức 12 hình/ giây (khi xem phim, khán giả sẽ 9 thấy hình ảnh bị giật).

Ngày 28 tháng 12 năm 1895 là mốc đánh dấu sự ra đời của điện ảnh ­ ngày hai anh em Auguste và Louis Lumière (xuất phát điểm là nhà nhiếp ảnh cự phách) nhận bằng đăng kí phát minh máy chiếu phim (cinématographe) và tổ chức buổi chiếu phim thu tiền đầu tiên tại Paris. Chiếc cinématographe là sự kế thừa hài hòa, thành công của nhiều phát minh trước đó; đồng thời hội tụ ba yếu tố quan trọng của phim ảnh: thứ nhất là ghép động ảnh ­ tạo ra những tấm ảnh tức thời, theo những kì tư thế của một động tác/ vận động liên tiếp nhau, thứ hai là chiếu rọi các hình ảnh của động tác ấy lên màn hình và thứ ba là tồn tại cơ cấu đẩy phim cả trong máy quay và máy chiếu. Những thước phim đầu của loài người đơn thuần ghi lại cảnh sinh hoạt hàng ngày trong thực tế. Sau đó, điện ảnh nhanh chóng trở thành nghệ thuật giải trí có sức cuốn hút mạnh mẽ.

Năm 1902 là mốc đánh dấu kỹ xảo điện ảnh ra đời, khi thành công tạo được khuôn mặt người trong mặt trăng ở phim Cuộc du hành lên mặt trăng (Le Voyage dans la lune) của Georges Méliès ­ người được tôn vinh là đã đưa điện ảnh thoát khỏi khủng hoảng của sự nhàm chán, thậm chí bị coi là đang hấp hối. Những thước phim mang tính chất người thật việc thật đơn thuần không còn hấp dẫn khán giả như buổi đầu, nhiều bộ phim chất lượng thấp và thiếu an toàn khi trình chiếu (ví như thảm họa Chợ Từ thiện, đèn ê­te của máy chiếu đã gây ra đám cháy khiến khoảng hai trăm người thuộc xã hội thượng lưu chết trong biển lửa). Bằng việc sáng tạo ra vị trí đạo diễn, các cảnh phim được xếp đặt theo dụng ý nhất định một cách rõ ràng hơn so với giai đoạn trước , kế thừa cách kể chuyện của nghệ thuật sân khấu, chú trọng sản xuất những cảnh huyền ảo, nhiều xảo thuật. Méliès cứu điện ảnh khỏi thân phận bị xua đuổi, đồng thời góp phần giúp điện ảnh giành thế chủ động khi cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật khác.

Phim The Birth of a Nation (1915) được coi là bước thay đổi lớn lao trên cả hai phương diện: kịch bản và kỹ thuật dàn dựng.Griffith trở thành người có công lớn trong việc chuẩn hóa nhiều thuật ngữ điện ảnh và tổng kết lại các khâu cần thiết trong quy trình sản xuất phim. Tuy nhiên, điện ảnh vẫn chỉ dừng lại ở phim câm ­ đầy hạn chế khi thể hiện những thước phim yêu cầu về chiều sâu tâm lí nhân vật, vì vậy thể loại hài lên ngôi (diễn viên phát huy thế mạnh của ngôn ngữ hình thể, diễn xuất qua sắc diện, vẻ mặt.); mỗi khi chiếu phim có thể cần các tấm biển đề lời thoại của nhân vật, cần người đọc thoại, thậm chí cần cả dàn nhạc sống đi theo đoàn 10 chiếu phim để minh họa. Năm 1927, phim có tiếng đầu tiên ra đời ­ The Jazz Singer. Nhờ công nghệ ghép nhạc trực tiếp vào cuộn phim, điện ảnh trở nên hấp dẫn, phim ca nhạc xuất hiện.

Nghệ thuật điện ảnh tiếp tục hoàn thiện mình với sự ra đời của phim màu. Thực tế, phim màu xuất hiện từ thế chiến thứ II, đã có thành tựu nhiều mặt trên các phương diện về góc quay đa dạng cũng như nghệ thuật dựng. Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1950 phim màu mới thực sự phổ biến. Màu sắc trên phim trở thành công cụ đặc biệt và hữu ích, giúp điện ảnh thắng thế khi cạnh tranh trên cuộc đua thu hút khán giả với nhiều loại hình giải trí.

Tuy so sánh có phần khập khiễng, người ta có thể tưởng tượng điện ảnh qua thời gian như một cô gái xinh đẹp, bình dị và lặng câm đã biết cất lên tiếng nói đầy hấp dẫn và điểm trang cho mình bằng phấn son, trang sức mỹ lệ, giàu màu sắc… khiến hầu hết nhân loại mê say. Ở giai đoạn tiếp theo, nhiều trào lưu điện ảnh ra đời ­ chẳng khác nào trăm hoa đua nở nơi khu vườn nghệ thuật. Kỹ thuật làm phim và quy trình sản xuất phim không ngừng hoàn thiện, chuyên môn hóa ở mức độ cao. Cuối thế kỷ 20, quy trình sản xuất phim kỹ thuật số xuất hiện, áp dụng trên cả phương diện máy quay và dựng phim.

Điều đó giúp giải quyết nhiều vấn đề về kinh phí cũng như nghệ thuật làm phim ­ máy móc gọn nhẹ và đảm bảo độ an toàn cao, các phần mềm dựng phim ra đời, định dạng viết kịch bản cũng được phổ biến, kỹ xảo âm thanh lẫn hình ảnh ngày một tiến bộ, đạt tới đỉnh cao. Sự ra đời và phát triển của điện ảnh là hành trình tiến bước từ những kỹ thuật ghi hình giải trí đơn thuần đến một môn nghệ thuật thực sự. Khi mới ra đời, điện ảnh chưa có vị thế nghệ thuật, trong các chương trình chiếu phim của Lumier chỉ xuất hiện những cảnh quay thực, ngắn ngủi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề Kịch bản phim truyện điện ảnh: Thể loại văn học độc đáo khám phá sự phát triển và đặc điểm của kịch bản phim như một thể loại văn học độc đáo. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của kịch bản trong việc xây dựng câu chuyện, phát triển nhân vật và tạo ra cảm xúc cho khán giả. Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra rằng kịch bản không chỉ là một bản thảo cho phim mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn học riêng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án toàn văn kịch bản phim truyện điện ảnh như là một thể loại văn học. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà kịch bản phim được hình thành và vai trò của nó trong văn học hiện đại. Mỗi liên kết là một cơ hội để bạn khám phá thêm và mở rộng hiểu biết của mình về lĩnh vực này.