Chương 1 TỔNG QUAN 1. Kịch bản như là một thành tố của phim truyện điện ảnh 1. Phim truyện điện ảnh như một phương thức kể chuyện Điện ảnh thường được hiểu là một khái niệm lớn, bao gồm “các bộ phim tạo bởi những khung hình chuyển động (phim); kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh và ánh sáng để tạo thành một bộ phim (kỹ thuật điện ảnh); hình thức nghệ thuật liên quan đến việc tạo ra các bộ phim và ngành công nghiệp thương mại liên quan đến các công đoạn làm, quảng bá và phân phối phim ảnh (công nghiệp điện ảnh)” [136]. Người ta quen gọi điện ảnh là nghệ thuật thứ bảy, bên cạnh những loại hình nghệ thuật ra đời trước đó: thơ văn, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, vũ kịch (khiêu vũ, sân khấu) và kiến trúc theo quan điểm của nhà triết học người Đức - Georg Wilhelm Friedrich Hegel.
Điện ảnh được coi là nghệ thuật tổng hợp khi nó kế thừa và phát huy tinh hoa ngôn ngữ nghệ thuật của tất cả các loại hình nghệ thuật còn lại. Là môn nghệ thuật đa phương tiện, nghệ thuật nghe - nhìn, hay một nền công nghiệp giải trí hàng đầu thế giới. điện ảnh tiến bước, gắn với sự phát triển về máy móc, công nghệ ghi hình và thu thanh, 6 đồng thời các nhà làm phim đã không còn dừng lại ở kênh nghe - nhìn mà đang nỗ lực mang lại nhiều chiều cảm xúc bằng việc tìm cách mở rộng thêm các kênh giác quan của người tiếp nhận. Điện ảnh - nghệ thuật thứ bảy, là bộ môn tổng hợp nhiều dạng thức ngôn ngữ, sử dụng những thuộc tính của các ngành nghệ thuật khác và lấy yếu tố kỹ thuật, công nghệ làm nền tảng quan trọng để tạo đà phát triển.
Ngôn ngữ đặc trưng của điện ảnh là hình ảnh động, kết hợp với âm thanh cùng nhiều yếu tố kỹ thuật khác được sắp xếp với nhau một cách hợp lí để tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Sự ra đời điện ảnh trở thành một bước ngoặt kể chuyện quan trọng của loài người. Lịch sử loài người ban đầu chưa có chữ viết, những câu chuyện được truyền miệng - kể bằng lời nói. Hầu hết các quốc gia đều tồn tại nền văn học dân gian truyền miệng riêng mình.
Ví như Arập xa xưa có rất nhiều thơ ca truyền miệng, nhiều thi sĩ dân gian và “họ thường ngâm thơ cho các bộ lạc du mục nghe” [150; tr. Hai bộ sử thi đồ sộ của Ấn Độ (Mahabharata và Ramayana) khởi điểm cũng là tác phẩm truyền miệng. Thần thoại Hy Lạp - tập hợp đồ sộ truyện kể về những vị thần, người anh hùng và sinh vật thần thoại - được kể với hình thức đầu tiên là thơ ca truyền miệng… Ngoài chất liệu ngôn ngữ, con người kể chuyện bằng đa dạng các hình thức: hình vẽ khắc trong hang núi, những bài dân ca, các điệu nhạc, tranh ảnh trên bình gốm, đồ tế lễ… Chữ viết ra đời là khúc ngoặt kể chuyện lớn lao của nhân loại. Hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người ra đời vào thời điểm cuối thiên niên kỷ 3 Trước công nguyên, tại vùng Sumer (Lưỡng Hà) [247].
Khi có chữ viết, con người kể chuyện bằng những lời văn. Khoảng 20 thế kỷ tiếp theo, nghệ thuật kể chuyện phát triển đỉnh cao với thể loại tiểu thuyết. Không chỉ vậy, với nhu cầu chia sẻ ở những mức độ khác nhau, các câu chuyện được kể bằng nhiều loại chất liệu đa dạng đã phát triển tinh hoa thành nghệ thuật: bằng màu sắc, đường nét trong hội họa; tiết tấu, nhịp điệu, âm vực trong âm nhạc; nghệ thuật diễn xuất của diễn viên tại bối cảnh nhất định ở sân khấu; hình ảnh tĩnh trong nhiếp ảnh… Điện ảnh ra đời, bắt đầu thời kỳ loài người kể chuyện bằng hình ảnh động. Có ý kiến cho rằng: trong việc kể chuyện thì ngôn từ và hình ảnh có mối quan hệ từ khởi nguyên của nhiều nền văn minh - một số sinh viên và học giả điện ảnh tìm thấy “mối tương kết ban đầu giữa điện ảnh và văn học từ những hình ảnh trong hang động thời tiền sử, những biểu tượng Ai Cập, hay nhiều nét thư pháp trong các nền văn minh sơ khai, chẳng hạn như chữ tượng hình Trung Quốc” [214; tr.
Các nhà sử học và phê bình tìm thấy những nỗ lực rất sớm của loài người trong việc “ghi lại sự kiện, kể chuyện hay khơi dậy sức mạnh tâm linh với phong cách giống như người ta dùng trong điện ảnh nhiều thế kỷ sau, nhằm giới thiệu về lịch sử của mình, kể lại chuyện của 7 mình” [214; tr. Điện ảnh là môn nghệ thuật hình ảnh, nảy sinh từ sự gợi ý của thành tựu, sức hấp dẫn ở nghệ thuật nhiếp ảnh. Đầu thế kỷ 19, các nhà khoa học đã phát hiện ra một hiện tượng rất lí thú về đôi mắt của con người: khả năng lưu lại hình ảnh sự vật, hiện tượng trong khoảng một phần nhỏ của giây sau khi sự vật ấy đã dời đi, gọi là “sự lưu ảnh (Persistence of vision)”. Mắt người có khả năng nhận ra dư ảnh, đó là tiền đề, nguồn động lực cho những thử nghiệm kỹ thuật phim ảnh trong suốt thế kỷ trước [10].
Nếu nhiếp ảnh là bức ảnh tĩnh thì điện ảnh lại là nghệ thuật của hình ảnh động. Lịch sử ra đời và phát triển điện ảnh gắn liền sự ra đời máy quay phim và những bước tiến của kỹ thuật ghi hình. Năm 1888, cuốn phim đầu tiên xuất hiện tại Anh, là thử nghiệm của nhà phát minh Louis Le Prince. Tuy nhiên, do kỹ thuật hạn chế, tốc độ ghi hình mới chỉ dừng lại ở mức 12 hình/ giây (khi xem phim sẽ thấy hình ảnh bị giật).
Ngày 28 tháng 12 năm 1895 là mốc đánh dấu sự ra đời của điện ảnh - ngày hai anh em Auguste và Louis Lumière (xuất phát điểm là nhà nhiếp ảnh cự phách) nhận bằng đăng kí phát minh máy chiếu phim (cinématographe) và tổ chức buổi chiếu phim thu tiền đầu tiên tại Paris. Chiếc cinématographe là sự kết hợp hàng loạt các phát minh, giải quyết ba phương diện: ghép động ảnh - nhằm tạo ra “hàng loạt những tấm ảnh tức thời nhưng theo những kì tư thế (phase) của một động tác (một vận động) liên tiếp nhau”, thứ hai là “chiếu rọi được các hình ảnh của động tác liên tiếp nhau ấy lên màn hình” và thứ ba là có “cơ cấu nhảy (đẩy phim) cả trong máy quay lẫn trong máy chiếu” [199; tr. Những thước phim đầu của loài người đơn thuần ghi lại cảnh sinh hoạt hàng ngày trong thực tế. Sau đó, điện ảnh nhanh chóng trở thành nghệ thuật giải trí có sức cuốn hút mạnh mẽ.
Năm 1902 là mốc đánh dấu kỹ xảo xuất hiện trong điện ảnh, khi tạo được ra khuôn mặt người trong mặt trăng ở phim Cuộc du hành lên mặt trăng (Le Voyage dans la lune) của Georges Méliès - người được coi là đã đưa điện ảnh thoát khỏi khủng hoảng của sự nhàm chán, thậm chí bị coi là đang hấp hối. Những thước phim mang tính chất người thật việc thật đơn thuần đã không còn hấp dẫn người xem như buổi đầu, nhiều bộ phim có chất lượng thấp, thiếu an toàn trong khi trình chiếu (cháy nổ. Bằng việc “phát minh” ra vị trí đạo diễn (các cảnh phim được sắp xếp theo dụng ý nhất định một cách rõ ràng hơn so với giai đoạn trước), học cách kể chuyện của nghệ thuật sân khấu, sản xuất những cảnh huyền ảo. Méliès góp phần giúp điện ảnh ở thế chủ động khi cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật khác.
Phim The Birth of a Nation (1915) được coi là bước thay đổi lớn lao trên cả hai phương diện: kịch bản, kỹ thuật dàn dựng.Griffith trở thành người có 8 công lớn trong việc chuẩn hóa nhiều thuật ngữ điện ảnh và tổng kết lại các bước cần thiết trong quy trình sản xuất phim. Tuy nhiên, điện ảnh vẫn chỉ dừng lại ở phim câm - đầy hạn chế khi thể hiện những thước phim yêu cầu về chiều sâu tâm lí nhân vật, mỗi khi chiếu phim có thể cần các tấm biển đề lời thoại của nhân vật, người đọc thoại, thậm chí cần đến cả dàn nhạc để minh họa. Năm 1927, phim có tiếng đầu tiên ra đời - The Jazz Singer. Nghệ thuật điện ảnh tiếp tục hoàn thiện mình với sự ra đời của phim màu.
Thực tế, phim màu xuất hiện từ thế chiến thứ II, đã có thành tựu nhiều mặt trên các phương diện đa dạng góc quay cũng như nghệ thuật dựng. Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1950 phim màu mới thực sự phổ biến. Màu sắc trên phim trở thành công cụ đặc biệt và hữu ích giúp điện ảnh thắng thế khi cạnh tranh trên cuộc đua thu hút khán giả với các loại hình giải trí đa dạng. Ở giai đoạn tiếp theo, nhiều trào lưu điện ảnh ra đời - chẳng khác nào trăm hoa đua nở nơi khu vườn nghệ thuật.
Kỹ thuật làm phim và quy trình sản xuất phim không ngừng hoàn thiện, chuyên môn hóa ở mức độ cao. Cuối thế kỷ 20, quy trình sản xuất phim kỹ thuật số xuất hiện, áp dụng trên cả phương diện máy quay và dựng phim. Điều đó giúp giải quyết nhiều vấn đề về kinh phí cũng như quy trình và nghệ thuật làm phim - máy móc gọn nhẹ và đảm bảo độ an toàn cao, các phần mềm dựng phim ra đời, định dạng viết kịch bản cũng được phổ biến, kỹ xảo âm thanh lẫn hình ảnh ngày một tiến bộ và đạt tới đỉnh cao. Sự ra đời và phát triển của điện ảnh là hành trình tiến bước từ những kỹ thuật ghi hình giải trí đơn thuần đến một môn nghệ thuật thực sự.
Khi mới ra đời, điện ảnh chưa có được vị thế nghệ thuật, trong các chương trình chiếu phim của Lumier chỉ có những cảnh quay thực, ngắn ngủi. Hãng phim Lumier đã phái các nhà quay phim được đào tạo đi khắp nước Pháp cùng nhiều nước trên thế giới để quay và chiếu phim. Chẳng khác nào một “chiến dịch săn lùng ảnh động” [199; tr.14] để làm phim tài liệu, du lịch. Tuy nhiên, điện ảnh đã nhanh chóng “vượt lên thân phận thấp kém của một trò giải trí chợ phiên” [204; tr.
Sau khi bước vào sinh hoạt của loài người với tư cách một sáng chế kỹ thuật trước ngưỡng cửa thế kỉ XX chừng ba thập kỷ, nó đã trở thành nghệ thuật hùng vĩ chiếm lĩnh vị trí ngang hàng, thậm chí sở hữu những ưu trội nổi bật so với các loại hình nghệ thuật khác - văn học, sân khấu, âm nhạc, hội họa, điêu khắc - ra đời trước hàng ngàn năm.