Chương 1 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 1. Những thay đổi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 Mặc dù những tín hiệu dự báo về sự thay đổi của văn học đã được ghi nhận trong sáng tác của một số nhà văn thời kỳ tiền đổi mới (1975-1985) như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Mạnh Tuấn, Khuất Quang Thụy, Ma Văn Kháng… song cao trào đổi mới chỉ thực sự diễn ra quyết liệt và triệt để từ sau thời điểm 1986. Công cuộc Đổi mới toàn diện được khởi xướng từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã mở ra một không khí dân chủ, thẳng thắn và cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho văn học có những bước chuyển mình. Vì vậy có thể nói, chính những chuyển biến sâu sắc trong đời sống xã hội Việt Nam từ nửa sau thập kỷ 80 là tiền đề quan trọng cho quá trình đổi mới quan niệm nghệ thuật, đổi mới tư duy sáng tác để tạo thành cuộc chuyển đổi mạnh mẽ trong đời sống văn học Việt Nam đương đại.
Cuộc chuyển đổi ấy diễn ra ở mọi thể loại và cơ bản được xuất phát từ ý thức sâu sắc về tư cách nghệ sĩ, về cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Với tiểu thuyết – thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hình [33, 23] – những thay đổi đó diễn ra toàn diện, sâu sắc cả về nội dung khám phá, phương thức phản ánh lẫn kỹ thuật biểu hiện. Thay đổi tư duy nghệ thuật 1. Đổi mới tư duy tiểu thuyết Mặc dù trên thực tế, mọi công cuộc đổi mới đều có tiền đề từ thực tiễn, nhất là thực tiễn vật chất, song những định hướng cơ bản làm thay đổi thực tiễn ấy lại xuất phát từ tư duy, ý thức con người.
Đối với văn chương cũng vậy, những thay đổi trong đời sống xã hội đòi hỏi văn học phải có sự đổi mới phù hợp với quy luật phát triển khách quan cũng như phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc. Song những đổi mới trong văn học trước hết phải xuất phát từ tư duy người sáng tác. Sự đổi mới tư duy nghệ thuật sẽ đem 11 đến những thay đổi toàn diện về quan niệm nghệ thuật, quan niệm về hiện thực và con người, cũng như làm biến đổi cách nhìn nhận các giá trị thẩm mĩ… Văn học đã chuẩn bị cho cuộc đổi mới của mình bằng hàng loạt những vấn đề lí luận được tranh luận sôi nổi trong các cuộc hội thảo hay trên các diễn đàn báo chí. Nguyễn Minh Châu – một trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hôm nay (Nguyên Ngọc) – đã khởi đầu bằng bài tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, trong đó người viết đặc biệt nhấn mạnh: văn học cần phải được trở về với chính mình, cần phải chống nguy cơ “nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm đánh mất tư tưởng”.
Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài Đổi mới trước hết là sự tỉnh táo cho rằng không nên dùng từ “đổi mới” mà dùng từ “trở lại”: Có một lúc nào đó ta đã nhìn nhận không đúng, hành động không đúng, không đúng với hiện thực, không đúng với quy luật. Nay trở lại chỗ đúng. Đổi mới không phải là bịa ra một cái gì mới, chưa từng có, mà là trở lại nhìn nhận hiện thực sao cho tỉnh táo hơn khách quan hơn, hiện thực hơn, hiện thực đúng như nó có, không tô vẽ, không che giấu, không cắt xén. Nhìn nhận một cách tỉnh táo và dũng cảm.
[94] Tập trung nhiều nhất các ý kiến bàn luận là vấn đề số phận tiểu thuyết, đổi mới tư duy tiểu thuyết. Hai diễn đàn lớn nhất thu hút được sự tham gia của hàng loạt cây bút đương đại đó là cuộc tọa đàm Tiểu thuyết những năm gần đây – Đi tìm lời giải (12/11/1996) và hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết (7/11/2002). Các ý kiến tập trung vào phân tích thực trạng tiểu thuyết cũng như những yêu cầu đổi mới thể loại. Hơn bất kỳ thể loại nào khác tiểu thuyết phải biểu hiện được tính dân chủ, phải mang tính đối thoại cao, phải phát huy được cá tính sáng tạo của nhà văn, phải đổi mới cách nhìn nhận, tiếp cận con người và hiện thực đời sống, khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng phức tạp, quan tâm đến số phận cá nhân… Có thể thấy văn học thời kỳ đổi mới đã có bước chuyển đổi quan trọng về tư duy: tư duy sử thi từng chi phối các sáng tác văn chương thời kỳ trước dần thay thế bằng tư duy tiểu thuyết, cùng với nó là sự chuyển đổi cảm hứng sáng tác: từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư.
Các sáng 12 tác không nhằm phát biểu những chân lý, đề cao những tư tưởng… mà chỉ khắc họa hiện thực như nó vốn có: một hiện thực bề bộn, nhức nhối, chưa hoàn chỉnh với những tốt xấu đan xen, trắng đen lẫn lộn. Ở đó không có những cá nhân tuyệt đối tốt hoặc tuyệt đối xấu, đời sống không đơn giản, một chiều. Tư duy tiểu thuyết đã trả lại cho văn học bộ mặt chân xác của đời sống. Cùng với sự thay đổi ấy, hiện thực được khám phá dưới nhiều góc nhìn mới mẻ và số phận con người đã trở thành vấn đề trung tâm luận của tiểu thuyết, nhất là con người cá thể, con người đời thường.
Khám phá hiện thực đa chiều Do điều kiện hoàn cảnh lịch sử đất nước những năm trước 1975, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm là phục vụ kháng chiến, cổ vũ tinh thần chiến đấu. Hiện thực cách mạng, đời sống kháng chiến chính là nội dung của văn học. Những năm từ 1975 – 1985 có thể coi là chặng đường văn học chuyển tiếp, trăn trở tìm kiếm con đường đổi mới. Mặc dù vệt dư âm của chiến tranh vẫn chi phối đời sống văn học và nội dung các sáng tác văn chương, nhưng những tín hiệu đổi mới đã xuất hiện trong hàng loạt những tiểu thuyết: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 1975 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Đứng trước biển (Nguyễn Mạnh Tuấn), Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng)… Dấu hiệu đổi mới xuất hiện trong cả thi pháp thể loại lẫn cách nhìn nhận các vấn đề hiện thực.
Bên cạnh cảm hứng ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán và nội dung hiện thực dịch chuyển dần về phía đạo đức, sinh hoạt, thế sự đời tư. Song phải đến 1986 – năm bản lề đánh dấu bước ngoặt chuyển biến – tiểu thuyết mới thực sự bước vào cao trào đổi mới. Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết đã mở ra khả năng khám phá hiện thực đa dạng, đa chiều. Nhà văn Nguyễn Tuân đã phát biểu về quá trình chuyển đổi này: Lâu nay, người ta đề cập đến một thứ hiện thực một chiều chứ không phải hiện thực như nó đang có (…) Đổi mới trong văn học theo tôi phải gọi sự vật đúng với cái tên của 13 nó, phải phản ánh hiện thực trong cái vẻ toàn diện, nhiều chiều, nhiều mặt của nó chứ không chỉ một chiều [94].
Nhà văn phải có nhận thức đúng, nhận thức đủ, nhận thức sáng tạo về hiện thực để vừa đi sâu khám phá bản chất lại vừa mở rộng biên độ phản ánh hiện thực. Có thể thấy ba xu hướng khám phá hiện thực nổi bật. Trước hết là khuynh hướng nhận thức lại hiện thực. Các vấn đề tưởng như quá cũ mòn của đời sống như chiến tranh, người lính, người nông dân, đời sống nông thôn… được khai thác dưới một trường nhìn mới, đem lại những nhận thức hoàn toàn mới mẻ: khách quan hơn và đúng như nó vốn có.
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác phẩm: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Thời xa vắng (Lê Lựu), Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường)… Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng mở rộng biên độ hiện thực, khai thác cả những mảng hiện thực mà xưa nay vẫn xem là “nhạy cảm” của văn học như: các biến cố và nhân vật lịch sử, vấn đề bản năng và tình dục… Sự mở rộng trường khai thác đã đem lại cho tiểu thuyết sự phong phú, đa dạng về đối tượng và khiến cho tiểu thuyết hấp dẫn hơn bao giờ hết. Hàng loạt các tiểu thuyết lịch sử kiểu mới liên tiếp xuất hiện: Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Bão táp cung đình (Hoàng Quốc Hải)… Vấn đề bản năng và tình dục được mô tả như những biểu hiện tự nhiên và nhân bản, có mặt trong không ít tác phẩm: Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Bến không chồng (Dương Hướng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Ngày hoàng đạo (Nguyễn Đình Chính), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Ngồi (Nguyễn Bình Phương)… Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng sáng tạo hiện thực. Các nhà văn tăng cường chiều hướng khai thác, chiếm lĩnh cả những hiện thực giấc mơ, vô thức, hiện thực tâm lý, tâm linh… Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác phẩm: Góc tăm tối cuối cùng (Khuất Quang Thuỵ), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh)… 14 Khám phá hiện thực đa chiều, tiểu thuyết không xây dựng các cực đối lập, các giá trị tuyệt đối, bên cạnh cái tốt đẹp, cao cả, tiểu thuyết phản ánh cả những mặt xấu xa, thấp hèn, phi nhân tính, đôi khi hiện hữu đầy đủ ngay trong một hình tượng nghệ thuật. Cuộc sống hiện lên trong những trạng thái phức tạp, các khuynh hướng trái ngược cùng đấu tranh và cùng tồn tại.
Một mô hình thế giới nghệ thuật mới được kiến tạo với cả hiện thực đời thực, hiện thực tâm lý, hiện thực tâm linh và được tiếp cận từ nhiều phía, bằng nhiều cách thức. Dù ở góc độ nào hiện thực ấy vẫn thấm đẫm hơi thở thời đại và trăn trở bao số phận con người. Khai thác số phận cá nhân Tiểu thuyết cũ với cảm quan sử thi chủ yếu khai thác các hình tượng tập thể, khắc hoạ hình tượng con người cộng đồng, con người mang tính đại diện cho chân lý thời đại. Tiểu thuyết mới đi sâu khám phá con người cá nhân trong tính đa dạng, phức tạp của nó.