mở đầu cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam. Ở miền Nam: Có điều kiện thuận lợi hơn để nghiên cứu về văn học Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ, nhưng không phải nhà nghiên cứu ở miền Nam nào cũng quan tâm đúng mức đến mảng văn học này. Trần Thanh Hiệp, trong một bài diễn thuyết tại câu lạc bộ Văn hóa ở Sài Gòn ngày 12- 8-1960, vẫn cho rằng trong quá khứ, nền văn chương miền Nam không có gì đáng gọi là văn chương cả. Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III Văn học hiện đại 1862 – 1945 (1965), Phạm Thế Ngũ đã dành hẳn một phần viết về tiểu thuyết miền Nam.
Ở đó, tác giả thừa nhận thể tiểu thuyết đã đi trước một bước ở miền Nam, nhưng rồi ông cũng chỉ nghiên cứu duy nhất trường hợp Hồ Biểu Chánh. Việt Long Giang trên báo Phổ thông số 142 năm 1965 có bài Danh nhân Tân Châu: Ông Nguyễn Chánh Sắc một nhà văn tiền phong của miền Nam. Tạp chí Văn học số 136 ngày 15.1971 đặc biệt dành riêng cho Phú Đức với những bài viết của Phan Kim Thịnh, Ngọa Long, Thượng Sỹ, Vũ Bằng, Tế Xuyên. Việc tập trung nghiên cứu Hồ Biểu Chánh như là một nhà văn, một nhà tiểu thuyết tiêu biểu của Nam Bộ cũng là hướng nghiên cứu của những công trình như Văn học Việt Nam thế kỷ XIX – tiền bán thế kỷ XX (1800 – 1945) của Vũ Hân (1967), Văn 15 Đến năm 1967, trong công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng có phác qua đôi nét về phong trào dịch thuật và sáng tác tiểu thuyết ở Nam Bộ.
Còn cuốn Khi những lưu dân trở lại (1969), tuy không là khảo luận văn học, nhưng Nguyễn Văn Xuân đã nêu một vấn đề rất xác đáng: Hồ Biểu Chánh một cây bút tiêu biểu nhất cho miền Nam, qua các thời kỳ thăng trầm nhất của lịch sử văn học, vẫn đứng vững như thạch trụ. Tại sao nhắc đến tiểu thuyết phôi thai lại không để tâm nghiên cứu những tác giả miền Nam vào khoảng đầu thế kỷ?” [200,11]. Vào thập niên 70, tình hình nghiên cứu văn học Nam Bộ có phần khởi sắc hơn. Bằng Giang với Mảnh vụn văn học sử (1974) đã bước đầu góp nhặt tư liệu để sau này tiến tới xây dựng công trình Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930, một trong những công trình bước đầu đáng chú ý nhất về văn học Nam Bộ xuất bản sau năm 1975.
16 Đáng chú ý nhất ở giai đoạn này là công trình Phần đóng góp của Văn học miền Nam, những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1975) của Bùi Đức Tịnh. Lần đầu tiên con đường hình thành của tiểu thuyết ở Nam Bộ đã được phác họa khá chi tiết, tác giả cho rằng: Trong suốt giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện kim và giai đoạn hình thành nền quốc văn mới, nghĩa là từ 1865 đến 1932, hầu hết các tác phẩm xuất hiện ở miền Nam đều bị coi như không có trong lịch sử văn học miền Nam [176, 7]. Theo ông: Sự bỏ rơi bỏ rớt những đứa con tinh thần dẫu là vô tình mà không hay biết, cho dẫu là những đứa con ấy bị nhìn vội và bị cho rằng không khôi ngô tuấn tú – vẫn là điều hoang phí. Một sự hoang phí như thế không nên để xảy ra nhất là khi xem xét lại, mọi người sẽ nhìn nhận rằng những đứa con rơi đó còn giữ nguyên đặc tính của nòi giống và đã can đảm góp công vào cuộc đấu tranh dai dẳng chống xâm lăng [176, 28] Nói về quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết ở Nam Bộ, Bùi Đức Tịnh nhận định: Hình thức phôi thai xuất hiện sớm nhất ở miền Nam là thơ, tức loại truyện của văn chương cổ điển đội lốt bằng cách lấy cuộc đời của một nhân vật đương thời làm đề tài, kế đến là những truyện không được gọi thẳng như 17 Công trình của Bùi Đức Tịnh chỉ giới thiệu những tiểu thuyết từ 1920 trở về trước, và trong việc giới thiệu cũng có những sai sót, ví dụ như phần giới thiệu về tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu; một vài nhận định cũng chưa chính xác, chẳng hạn về báo Nam Bộ địa phận, nhưng cần phải ghi nhận sự đóng góp quan trọng của Bùi Đức Tịnh trong việc phác họa quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ, đặc biệt là việc phát hiện tác phẩm Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản… 2.
Từ sau năm 1975 Từ năm 1975, đất nước hoà bình, thống nhất, điều kiện nghiên cứu có nhiều thuận lợi hơn. Tuy nhiên cũng phải đến giữa thập kỷ 80 trở đi, công việc nghiên cứu văn học Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ mới thật sự sôi nổi. Bộ Từ điển văn học gồm 2 tập xuất bản năm 1983, 1984 chỉ giới thiệu duy nhất một tác giả tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX, đó cũng lại là Hồ Biểu Chánh. 18 Năm 1985, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1958 – 1920 (quyển II) do Huỳnh Lý chủ biên có phần viết ngắn về tiểu sử của Trần Thiên Trung và trích giới thiệu tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan với lời đánh giá khá cao về tính hiện thực của tác phẩm.
Tiếp theo là những công trình như Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên, Truyện thầy Lazaro Phiền (1987) của Nguyễn Văn Trung, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (1988) của nhiều tác giả, Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 (1988) của hai tác giả Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng, Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954) (sơ thảo) của Hoài Anh - Thành Nguyên - Hồ Sĩ Hiệp (1988), Tiến trình văn nghệ miền Nam (1990) của Nguyễn Q. Thắng, Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 –1930 (1992) của Bằng Giang… Công trình của Nguyễn Văn Trung đã điểm lại các loại truyện viết bằng chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và phân tích Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, với mục đích chứng minh đây là tác phẩm tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ở nước ta chứ không phải là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách chỉ ra đời sau đó gần 40 năm. Tập sách còn đề cập đến hàng loạt các nhà văn Nam Bộ khác, như Nguyễn Khánh Nhương, Trương Duy Toản, Michel Tình, Biến Ngũ Nhy, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắc…. Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng đã có những nhận định rất sâu sắc về sự hình thành và phát triển của nền văn học mới, về sự ra đời của truyện ngắn và tiểu thuyết.
Nhưng có lẽ do tư liệu về văn học Nam 19 Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900 – 1954) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp (1988) đã có phần viết về tiểu thuyết ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX và tiểu thuyết ở Nam Bộ từ 1922 -1945. Một số tác phẩm của Trần Thiên Trung (Trần Chánh Chiếu), Trương Duy Toản, Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử, Lê Hoằng Mưu, Biến Ngũ Nhy, Nguyễn Chánh Sắc, Hồ Biểu Chánh cũng đã được tóm tắt và giới thiệu sơ lược. Sau đó Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp xuất bản cuốn Những danh sĩ miền Nam (1999), trong đó có giới thiệu vắn tắt về Trần Chánh Chiếu. Liên tục trên nhiều số tạp chí Văn (TP.Hồ Chí Minh), Hoài Anh có bài nghiên cứu về các nhà văn Nam Bộ, sau được ông đưa vào công trình Chân dung văn học (NXB.Hội nhà văn, 2001), trong đó ông giới thiệu được 28 nhà văn quốc ngữ Nam Bộ.
Trong Phần 1, Hoài Anh đã xây dựng khá sinh động chân dung của những người viết tiểu thuyết Nam Bộ như Nguyễn Trọng Quản, Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắc, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Văn Vinh, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên, Phú Đức, Bửu Đình… Do tính chất báo chí nên những bài viết này dù cung cấp khá nhiều tư liệu nhưng chưa đi sâu vào phân tích tỉ mỉ giá trị của từng tác phẩm. Đáng chú ý là Hoài Anh đã khái quát được những đóng góp chủ yếu của các tiểu thuyết gia tiên phong Nam Bộ. Ông gọi Nguyễn Trọng 20 Một công trình đã cung cấp khá nhiều tư liệu về văn học Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ là cuốn Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh tập II (1988), trong đó có phần Văn học chữ quốc ngữ ở Sài Gòn – Gia Định cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Tầm Vu (Trần Văn Giàu), Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Y viết. Các tác giả công trình đã có một số nhận định khái quát về phong trào sáng tác tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ và giới thiệu sơ lược một số tác gia tiêu biểu như Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắc, Hồ Biểu Chánh… Điạ chí cũng đã cung cấp một thư tịch về truyện và tiểu thuyết ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1930 gồm 99 cuốn truyện và tiểu thuyết của 35 tác giả.
Đến lần tái bản năm 1998, thư tịch này đã được bổ sung bằng Thư mục văn học (Sài Gòn và Nam Bộ từ 1866 đến 1930) do Nguyễn Văn Y soạn, tập hợp 1122 tác phẩm, trong đó phần tiểu thuyết và truyện ngắn là 276 cuốn. Tất nhiên đây chỉ là một phần nhỏ trong gia tài tiểu thuyết và truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trong Tiến trình văn nghệ miền Nam (1990), Nguyễn Q. Thắng đã dành nhiều trang để giới thiệu thể loại tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ.
Ông cũng khẳng định các nhà văn Nam Bộ đã đi 21 Một công trình cũng rất đáng chú ý là Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 - 1930 của Bằng Giang xuất bản năm 1992. Trong phần tác giả và tác phẩm, Bằng Giang giới thiệu thư tịch về các tác phẩm đã xuất bản. Các tác giả viết văn xuôi quốc ngữ được giới thiệu gồm: Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử… Bằng Giang cũng bàn đến những vấn đề liên quan mật thiết đến tiểu thuyết Nam Bộ như phong trào dịch thuật truyện Tàu, câu văn xuôi quốc ngữ v.v… Những tư liệu đáng quý và gợi ý của tác giả đã giúp 22 Bên cạnh công trình này, Bằng Giang còn có một số bài báo tâm huyết về văn học Nam Bộ, như bài Truyện Tàu với một số tiểu thuyết gia đầu tiên ở Việt Nam đăng trên Kiến thức ngày nay số 100 năm 1993 để trả lời câu hỏi của giáo sư J. Shafer về ảnh hưởng của truyện Tàu đến tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ.