Tổng quan luận án

Công trình Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của nghiên cứu sinh Võ Văn Nhơn, do Giáo sư Hoàng Như Mai hướng dẫn khoa học, được bảo vệ năm 2008 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), thuộc chuyên ngành Lý thuyết và lịch sử văn học (Mã số: 5.01). Luận án có dung lượng 183 trang văn bản chính, bao gồm phần Dẫn nhập (25 trang), ba chương nội dung (132 trang), phần Kết luận (5 trang) và Thư mục tham khảo (207 đề mục).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tiểu thuyết hiện đại Việt Nam bằng chữ quốc ngữ đã hình thành và phát triển từ rất sớm tại Nam Bộ với quy mô hàng trăm tác giả và gần một nghìn tác phẩm. Tuy nhiên, sau mốc lịch sử năm 1945, do điều kiện phân chia địa lý và sự thiếu hụt tư liệu văn bản, bộ phận văn học này đã trải qua một thời gian dài bị giới nghiên cứu phê bình lãng quên hoặc đánh giá chưa đầy đủ; hầu hết các công trình văn học sử thời kỳ trước chỉ ghi nhận trường hợp của Hồ Biểu Chánh và mặc định xem các tác phẩm xuất bản ở miền Bắc như Quả dưa đỏ (1923) của Nguyễn Trọng Thuật hay Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách là mốc khởi đầu của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện diện mạo, tiến trình và đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là yêu cầu khoa học nhằm bổ khuyết khoảng trống lịch sử văn học, tái lập bức tranh đầy đủ về tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  1. Khảo sát toàn diện các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và ngôn ngữ dẫn tới sự hình thành tiểu thuyết chữ quốc ngữ tại Nam Bộ.
  2. Phục dựng tiến trình vận động lịch sử của tiểu thuyết Nam Bộ qua các giai đoạn từ phôi thai, phát triển đến hòa nhập vào dòng chảy chung của văn học cả nước.
  3. Xác lập hệ thống đặc điểm về lực lượng sáng tác, quan niệm nghệ thuật, nội dung phản ánh và thi pháp thể loại (kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ) của tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1887 – 1932.
  4. Xây dựng khung phân loại tiểu thuyết Nam Bộ theo các thể tài chủ yếu và bổ sung thư mục tác phẩm giai đoạn này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tác giả và tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ xuất bản ở Nam Bộ, tập trung vào những cây bút và tác phẩm mang tính chất mở đường cho các thể tài như Nguyễn Trọng Quản (Truyện thầy Lazaro Phiền), Hồ Biểu Chánh (Ai làm được), Lê Hoằng Mưu (Hà Hương phong nguyệt), Biến Ngũ Nhy (Kim thời dị sử), Tân Dân Tử (Giọt máu chung tình).
  • Phạm vi không gian: Địa hạt văn hóa - xã hội Nam Bộ, bao gồm các tác phẩm xuất bản tại Nam Bộ viết về đời sống, con người Nam Bộ của các nhà văn bản xứ hoặc các tác giả từ vùng miền khác chuyển vào sinh sống và sáng tác gắn bó với Nam Bộ (như Bửu Đình).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1887 (năm xuất bản tác phẩm văn xuôi tự sự Truyện thầy Lazaro Phiền) đến năm 1932 (thời điểm xuất hiện phong trào Tự Lực văn đoàn và trào lưu văn học hiện thực phê phán, đánh dấu giai đoạn tiểu thuyết Nam Bộ hòa nhập hoàn toàn vào tiến trình văn học chung của cả nước).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề theo bốn phân kỳ và khu vực địa lý:

1. Giai đoạn trước năm 1945: Các ý kiến phê bình bước đầu xuất hiện trực tiếp trên báo chí Nam Bộ qua các bài điểm sách, tranh luận và bút chiến. Tác phẩm Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu được Nguyễn Văn Nghĩa khen ngợi trên Lục Tỉnh tân văn (1915), nhưng đến năm 1928 lại trở thành tâm điểm của cuộc công kích luân lý gay gắt từ Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn Háo Vĩnh, Cao Hải Để, Trì Nam Tử trên Công luận báo, dẫn đến việc tác phẩm bị chính quyền thuộc địa tịch thu và tiêu hủy. Tác phẩm Lỗi bước phong tình (1922) của Nguyễn Thành Long tạo ra tranh luận giữa Nguyễn Mạnh Bổng (khen ngợi trên Hữu Thanh) và Dá Cô (phủ định trên Nam Bộ kinh tế báo). Các tiểu thuyết của Phạm Minh Kiên (Mười lăm năm lưu lạc, Hiếu nghĩa vẹn hai, Lê Triều Lý Thị) được Hồ Văn Hiến, LQ giới thiệu trên Nông cổ mín đàm, Đông Pháp thời báo. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được Nguyễn Tường, Minh Quang, Phạm Minh Kiên phân tích về lối văn "tả chơn". Ở phạm vi liên vùng, Phan Khôi viết bài khảo sát từ Trương Vĩnh Ký đến Nguyễn Chánh Sắc trên Phụ Nữ Tân Văn (1929); Thiếu Sơn đánh giá cao nghệ thuật xây dựng nhân vật xã hội của Hồ Biểu Chánh trên Phụ Nữ Tân Văn (1931) và trong Phê bình và cảo luận (1933). Ngược lại, ở miền Bắc, các công trình của Phạm Quỳnh (Bàn về tiểu thuyết, 1921), Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1941) và Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, 1942 – 1945) hầu như không khảo sát tiểu thuyết Nam Bộ hoặc chỉ điểm qua Hồ Biểu Chánh, tiếp tục xác nhận vị trí mở đầu cho Quả dưa đỏ và Tố Tâm.

2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975:

  • Tại miền Bắc: Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập IV (1962) do Nguyễn Đình Chú biên soạn dành một chương nghiên cứu Hồ Biểu Chánh. Năm 1972, nhóm tác giả Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú trong Lược truyện các tác gia Việt Nam nêu giả thuyết khoa học về sự xuất hiện sớm của tiểu thuyết lãng mạn tại Nam Bộ từ các bản phỏng dịch của Hồ Văn Đoàn (1905), U tình lục (1909), Chúa tàu Kim Quy (1913/1926). Đến năm 1974, Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại vẫn duy trì quan điểm xem Tố Tâm là mốc khởi đầu.
  • Tại miền Nam: Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Tập III, 1965) thừa nhận tiểu thuyết đi trước một bước ở miền Nam nhưng chỉ khảo sát sâu Hồ Biểu Chánh. Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) phác thảo phong trào dịch thuật và sáng tác. Nguyễn Văn Xuân trong Khi những lưu dân trở lại (1969) đặt vấn đề nghiên cứu các tác giả Nam Bộ đầu thế kỷ. Bằng Giang xuất bản Mảnh vụn văn học sử (1974). Đáng chú ý nhất là công trình Phần đóng góp của Văn học miền Nam, những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1975) của Bùi Đức Tịnh, lần đầu tiên phục dựng hệ thống tiến trình tiểu thuyết Nam Bộ và tái phát hiện Truyện thầy Lazaro Phiền (1887).

3. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay: Nghiên cứu văn học Nam Bộ phát triển qua các công trình của Huỳnh Lý (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858 – 1920, 1985), Nguyễn Văn Trung (Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên, Truyện thầy Lazaro Phiền, 1987), Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, 1988), Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp (Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX, 1988), Nguyễn Q. Thắng (Tiến trình văn nghệ miền Nam, 1990), Bằng Giang (Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930, 1992), Hoài Anh (Chân dung văn học, 2001 giới thiệu 28 nhà văn quốc ngữ), Nguyễn Kim Anh chủ biên (Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, 2004 giới thiệu 30 tác gia), Bùi Đức Tịnh (Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam..., 2005). Các hội thảo khoa học chuyên đề được tổ chức tại Tiền Giang (1989), Viện Khoa học Xã hội (1998), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM phối hợp Viện Văn học (2002, 2005). Các luận án tiến sĩ liên quan của Tôn Thất Dụng (1993), Cao Xuân Mỹ (2001), Lê Ngọc Thúy (2002) đã đi sâu vào một số khía cạnh thể loại.

4. Nghiên cứu ở nước ngoài: Bùi Xuân Bào (Le roman Vietnamien contemporain, 1961), Maurice M. Durand và Nguyễn Trần Huân (Introduction à la littérature Vietnamienne, 1969), N. I. Niculin (Nguồn gốc tiểu thuyết trong các nền văn học Á-Phi, 1980 - đề cập cuộc thi tiểu thuyết năm 1906), Cao Thị Như Quỳnh và John C. Shafer (các bài báo trên The Journal of Asian Studies 1988, The Vietnam Forum 1989, tạp chí Văn học 1993).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều bài viết và chuyên luận, các nghiên cứu trước đây vẫn bộc lộ hạn chế: diện bao quát tư liệu chưa đầy đủ, còn tồn tại nhiều nhầm lẫn về mặt văn bản, tiểu sử tác giả và thư mục tác phẩm; chưa có công trình nào tổng hợp và phân loại một cách hệ thống các thể tài tiểu thuyết Nam Bộ cũng như phân tích thấu đáo diện mạo thi pháp trong mối quan hệ đa chiều giữa tiếp thu văn học phương Tây, văn học cổ điển Trung Hoa và truyền thống văn hóa bản địa. Luận án đặt mục tiêu giải quyết trọn vẹn các khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án tiếp cận thể loại dựa trên định nghĩa của Từ điển văn học (bộ mới) (2004): Tiểu thuyết là "thuật ngữ chỉ thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt 'cơ cấu' của nhân cách".

Luận án quán triệt quan điểm xem xét khái niệm tiểu thuyết trong giai đoạn giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX một cách linh hoạt, mềm dẻo. Đây là giai đoạn quá độ, nơi diễn ra sự đan xen giữa thi pháp tiểu thuyết chương hồi cổ điển Trung Hoa và kỹ thuật tiểu thuyết cận - hiện đại phương Tây, hình thành nên hiện tượng "nét nhòe thi pháp" giữa đoản thiên tiểu thuyết, truyện dịch, truyện phóng tác và tiểu thuyết sáng tác độc lập.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành văn học sử và thi pháp học:

  • Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt tiểu thuyết Nam Bộ trong bối cảnh tái cấu trúc kinh tế - chính trị của xã hội thuộc địa Nam Kỳ, sự hình thành tầng lớp thị dân mới và môi trường văn hóa đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn.
  • Phương pháp so sánh văn học: So sánh sự tiếp thu và biến đổi giữa tiểu thuyết Nam Bộ với tiểu thuyết Pháp và tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa; so sánh bước đi và đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ với quá trình phát triển của văn học chữ quốc ngữ ở miền Bắc cùng thời kỳ.
  • Phương pháp thi pháp học và phân tích văn bản: Phân tích các yếu tố cấu trúc nội tại của tác phẩm gồm kết cấu trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, điểm nhìn và ngôn ngữ nghệ thuật.
  • Phương pháp thống kê, phân loại thư mục: Thống kê, khảo sát văn bản xuất bản, phân loại hệ thống tác phẩm theo thể tài và niên đại.

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát

  • Khảo sát trực tiếp các văn bản tiểu thuyết xuất bản từ năm 1887 đến 1932 lưu trữ tại các thư viện và bộ sưu tập tư nhân.
  • Khảo sát hệ thống báo chí chữ quốc ngữ xuất bản tại Sài Gòn giai đoạn 1865 – 1932 (Gia Định báo, Thông loại khóa trình, Nông cổ mín đàm, Lục Tỉnh tân văn, Công luận báo, Đông Pháp thời báo, Phụ Nữ Tân Văn...).
  • Các văn bản quy phạm pháp luật, nghị định, thông tư của chính quyền thuộc địa Pháp ban hành tại Nam Kỳ liên quan đến hành chính, giáo dục, in ấn và xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những tiền đề hình thành và phát triển tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Chương 1 (30 trang) phân tích hệ thống các tiền đề cấu thành môi trường cho sự ra đời của tiểu thuyết chữ quốc ngữ tại Nam Bộ:

1. Tiền đề kinh tế – chính trị và xã hội:

  • Nam Kỳ trở thành xứ thuộc địa chịu sự cai trị trực tiếp của Pháp sau Hòa ước 1884. Sài Gòn được thành lập thành phố theo sắc lệnh năm 1877 và trở thành thủ phủ Đông Dương năm 1887. Năm 1879, chế độ Toàn quyền dân sự thay thế chế độ quân quản Đô đốc.
  • Hạ tầng giao thông và công nghiệp hình thành: Đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho (khởi công 1881), Sài Gòn – Khánh Hòa (1901), đường bộ Sài Gòn – Tây Ninh (1901), hệ thống cầu đường, cảng biển và các nhà máy xay lúa, xưởng đóng tàu.
  • Sự hình thành cơ cấu giai cấp mới: Tầng lớp tiểu tư sản thị dân, công nhân, dân nghèo thành thị (phu xe, bồi bàn, người buôn bán nhỏ) và tầng lớp tư sản bản xứ. Cộng đồng người Hoa tại Sài Gòn – Chợ Lớn đóng vai trò quan trọng trong thương mại, hoạt động in ấn và phân phối sách báo.

2. Tiền đề giáo dục và tầng lớp trí thức mới:

  • Sự ra đời của các cơ sở giáo dục phương Tây: Trường Adran (1860), Trường Hài Đồng (1861), Trường An Nam (Collège Annamite, 1862). Chế độ thi cử Nho học (thi Hương) bị xóa bỏ sớm nhất tại Nam Bộ; chương trình giáo dục Pháp – Việt chính thức ban hành năm 1879.
  • Nghị định ngày 14-6-1880 thiết lập trường dạy chữ quốc ngữ tại các làng tổng. Đội ngũ trí thức Tây học hình thành, tiếp cận trực tiếp văn hóa và văn học Pháp.

3. Chữ quốc ngữ, kỹ nghệ in ấn và báo chí:

  • Chính quyền thực dân ban hành các văn bản hành chính bắt buộc sử dụng chữ quốc ngữ: Nghị định ngày 22-2-1869 quy định văn bản chính thức dùng mẫu tự Latinh từ 1-4-1869; Thông tư ngày 28-1-1874 trợ cấp cho làng xã dùng quốc ngữ; Nghị định ngày 23-7-1879 phụ cấp 100 đồng cho công chức biết chữ quốc ngữ; Nghị định ngày 30-1-1882 bắt buộc áp dụng trên toàn Nam Kỳ.
  • Kỹ nghệ in ấn: Nhà in Impériale thành lập năm 1862. Thống kê giai đoạn 1862 – 1932 ghi nhận 74 nhà in hoạt động tại Sài Gòn.
  • Báo chí đóng vai trò bà đỡ cho văn học: Gia Định báo (1865), Thông loại khóa trình (1888). Đặc biệt, báo Nông cổ mín đàm (ra đời 1901) do Gilbert Trần Chánh Chiếu làm chủ bút đã tổ chức cuộc thi viết tiểu thuyết Quốc âm thí cuộc (tháng 10-1906) và đăng tải nhiều tiểu thuyết dài kỳ đầu tiên. Các tờ báo Lục Tỉnh tân văn, Công luận báo tiếp tục là nơi công bố hầu hết các tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Hồ Biểu Chánh, Biến Ngũ Nhy.

4. Nguồn mạch tiếp nhận văn học: Tiểu thuyết Nam Bộ tiếp thu đồng thời ba nguồn ảnh hưởng: trào lưu dịch thuật tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa (truyện Tàu), kỹ thuật trần thuật và đề tài của tiểu thuyết văn xuôi Pháp/phương Tây, và nền tảng văn học dân gian, truyện thơ Nôm truyền thống dân tộc.

Chương 2: Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Chương 2 (24 trang) phân kỳ lịch sử vận động của tiểu thuyết Nam Bộ từ năm 1887 đến 1932 qua ba giai đoạn:

Giai đoạn Thời gian Tác phẩm và hiện tượng tiêu biểu Đặc điểm vận động
Giai đoạn phôi thai 1887 – khoảng 1906/1912 Truyện thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản; các truyện phóng tác, phỏng dịch của Hồ Văn Đoàn (1905); Lương Hoa truyện (1906) của Nguyễn Khánh Nhương; Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu; U tình lục (1909). Bước chuyển từ văn vần, truyện dịch sang văn xuôi tự sự hư cấu. Bắt đầu xuất hiện ý thức viết truyện theo lối tả thực sinh hoạt bản xứ.
Giai đoạn trưởng thành và phát triển 1912 – khoảng cuối thập niên 1920 Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu; Kim thời dị sử (1917) của Biến Ngũ Nhy; các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh (Ai làm được, Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời, Tỉnh mộng); các tác phẩm của Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử, Phú Đức. Nở rộ về số lượng, tác giả và thể tài. Tiểu thuyết định hình rõ nét về cấu trúc tự sự, xuất hiện các cuộc tranh luận phê bình và hình thành thị trường xuất bản đại chúng sôi nổi.
Giai đoạn hòa nhập Cuối thập niên 1920 – 1932 Các sáng tác cuối kỳ của Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Nam Đình Nguyễn Thế Phương; sự giao lưu văn hóa giữa các cây bút Bắc – Trung – Nam trên các báo Sài Gòn. Kỹ thuật viết tiểu thuyết hoàn thiện dần, ngôn ngữ tự sự trau chuốt hơn; diện mạo tiểu thuyết Nam Bộ tiệm cận và hòa vào quỹ đạo chung của văn xuôi hiện đại cả nước trước năm 1932.

Chương 3: Đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Chương 3 (78 trang) là phần trọng tâm của luận án, phân tích toàn diện các bình diện cấu trúc của tiểu thuyết Nam Bộ:

1. Đặc điểm về lực lượng sáng tác và quan niệm nghệ thuật:

  • Kiểu hình nhà văn mới: Xuất hiện tầng lớp nhà văn – nhà báo chuyên nghiệp hóa hoặc bán chuyên nghiệp, viết văn gắn liền với sinh hoạt báo chí và thị trường tiêu thụ của công chúng thị dân. Đội ngũ tác giả xuất thân đa dạng, trong đó có nhóm các nhà văn Công giáo (Nguyễn Trọng Quản, Michel Tình...).
  • Quan niệm về tiểu thuyết: Tồn tại song song quan niệm giáo huấn truyền thống ("dĩ văn tải đạo", khuyên răn đạo lý, trừng ác khuyến thiện) với ý thức phản ánh hiện thực ("tả chơn", miêu tả chân thực thói hư tật xấu và xung đột xã hội). Thể loại dần chuyển đổi từ khái niệm "đoản thiên", "truyện đặt" sang thể loại tiểu thuyết văn xuôi hoàn chỉnh; chú trọng đổi mới ngôn ngữ theo hướng bình dân, dễ hiểu.

2. Đặc điểm về nội dung phản ánh:

  • Đi đầu trên con đường hiện đại hóa văn học tiếng Việt.
  • Thể hiện ý thức hướng ngoại rõ rệt thông qua việc tiếp thu cấu trúc, cốt truyện và tư tưởng xã hội phương Tây.
  • Đề cao chức năng giải trí, thu hút người đọc bằng cốt truyện ly kỳ, tình tiết bất ngờ, yếu tố phiêu lưu và trinh thám.
  • Hướng mạnh tới đối tượng công chúng bình dân đô thị và nông thôn.
  • Thấm đượm tinh thần yêu nước, đề cao đạo lý gia đình, nghĩa khí trượng phu Nam Bộ và phản ánh tinh thần dân chủ, bình đẳng xã hội.

3. Phân loại theo các thể tài tiểu thuyết chủ yếu:

Thể tài Tác giả tiêu biểu Tác phẩm tiêu biểu Đặc điểm thi pháp thể tài
Tiểu thuyết tâm lý Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Thành Long Truyện thầy Lazaro Phiền (1887), Hà Hương phong nguyệt (1912), Lỗi bước phong tình (1922) Tập trung vào xung đột nội tâm, ghen tuông, bi kịch ái tình và sự biến chuyển tâm lý nhân vật.
Tiểu thuyết hành động Biến Ngũ Nhy, Phú Đức Kim thời dị sử (1917), Hiệp phố châu huờn, Tiểu anh hùng Võ Kiết, Lửa lòng Yếu tố trinh thám, nghĩa hiệp, phiêu lưu mạo hiểm, nhịp điệu trần thuật nhanh, nhiều tình huống ly kỳ.
Tiểu thuyết lịch sử Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên Giọt máu chung tình (1925), Gia Long tẩu quốc, Việt Nam Lý trung hưng, Việt Nam anh kiệt, Lê triều Lý thị Lấy bối cảnh lịch sử dân tộc, kết hợp sự thật lịch sử với hư cấu nhằm khơi gợi lòng yêu nước và ý thức dân tộc.
Tiểu thuyết thế sự Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắc Ai làm được (1919), Tỉnh mộng, Cay đắng mùi đời, Tiền bạc bạc tiền, Tài mạng tương đố Miêu tả sinh hoạt xã hội, mâu thuẫn giai tầng, sự xói mòn đạo đức trước sức mạnh đồng tiền và số phận con người nghèo khổ.

4. Đặc điểm nghệ thuật và thi pháp:

  • Kết cấu: Tồn tại sự kết hợp giữa mô hình kết cấu chương hồi phương Đông (mở đầu - thắt nút - mở nút - kết thúc có hậu, thiện ác đáo đầu) với kỹ thuật kết cấu tâm lý, cốt truyện nhiều tuyến và kỹ thuật hồi tưởng của phương Tây.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật hành động chiếm ưu thế; tính cách nhân vật bước đầu được cá thể hóa thông qua hành vi, lời nói và hoàn cảnh cụ thể, dần thoát khỏi tính chất ước lệ của văn học trung đại.
  • Ngôn ngữ nghệ thuật: Vận dụng đậm nét khẩu ngữ, từ ngữ địa phương và ngữ điệu tự nhiên của đời sống thường nhật Nam Bộ, tạo nên phong cách trần thuật mộc mạc, sinh động, gần gũi với công chúng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  1. Khái quát hệ thống đặc điểm tiểu thuyết Nam Bộ: Luận chứng toàn diện về vị trí xuất hiện sớm của tiểu thuyết Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam; làm rõ các đặc trưng về lực lượng sáng tác, nội dung phản ánh (tính hướng ngoại, tính giải trí, tính bình dân) và các phương diện thi pháp (kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ khẩu ngữ).
  2. Đề xuất khung phân loại thể tài: Xác lập mô hình phân loại tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1887 – 1932 thành 4 thể tài chính: tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết hành động, tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết thế sự.
  3. Đính chính các sai sót tư liệu: Cung cấp các chứng cứ văn bản để đính chính các nhầm lẫn của những nhà nghiên cứu đi trước về thời điểm xuất bản, tên gọi tác phẩm, tác giả và các diễn biến phê bình báo chí đương thời (như các đính chính liên quan đến tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt và hoạt động của một số cơ quan báo chí).
  4. Sưu tầm tư liệu phê bình sơ khai: Bước đầu tập hợp và hệ thống hóa các bài viết, ý kiến phát biểu, tiểu luận phê bình của chính các nhà văn, ký giả Nam Bộ đương thời về thể loại tiểu thuyết.
  5. Bổ sung thư mục tác phẩm: Phát hiện và bổ sung 33 tên tác phẩm mới vào thư mục tiểu thuyết Nam Bộ (1887 – 1932), nâng quy mô thư mục khảo cứu lên con số 586 tác phẩm (trong phần dẫn nhập ghi nhận đến 590 tác phẩm).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do tình trạng thất lạc tài liệu qua các biến động lịch sử, nhiều tác phẩm tiểu thuyết Nam Bộ xuất bản trước năm 1932 hiện chỉ còn lại tên gọi trên báo chí hoặc thư mục mà chưa tìm thấy trọn vẹn văn bản gốc; tiểu sử và chân dung của nhiều tác giả vẫn chưa được ghi chép đầy đủ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục công tác sưu tầm, phục chế các văn bản tiểu thuyết Nam Bộ còn thất lạc tại các trung tâm lưu trữ trong nước và các kho tư liệu quốc tế (đặc biệt là Thư viện Quốc gia Pháp).
    • Khảo sát sâu hơn tiểu sử, sự nghiệp của các tác giả ít được biết đến để hoàn thiện diện mạo toàn cảnh của văn học Nam Bộ giai đoạn khởi đầu.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho các đối tượng:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học sử: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu trong nghiên cứu và biên soạn giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn chuyển giao cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; cung cấp tư liệu chuẩn xác về tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp phương pháp luận tiếp cận văn học khu vực, kỹ thuật xử lý tư liệu văn bản báo chí cổ và khung phân loại thể tài tiểu thuyết giao thời.
  • Cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành ngữ văn: Dùng làm đề cương hoặc tài liệu giảng dạy cho các học phần chuyên đề về Văn học Nam Bộ, Lịch sử báo chí và xuất bản tiếng Việt, hoặc Thi pháp tiểu thuyết Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chọn mốc thời gian khảo sát từ năm 1887 đến năm 1932? Mốc 1887 là năm xuất bản Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản – tác phẩm đánh dấu sự xuất hiện của thể loại truyện văn xuôi tự sự hư cấu mang tính chất hiện đại bằng chữ quốc ngữ. Mốc 1932 là thời điểm phong trào Tự Lực văn đoàn xuất hiện cùng với trào lưu văn học hiện thực phê phán phát triển mạnh mẽ, đánh dấu việc tiểu thuyết Nam Bộ hòa nhập hoàn toàn vào tiến trình hiện đại hóa chung của văn học cả nước.

2. Cuộc thi tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam diễn ra khi nào và do cơ quan nào tổ chức? Cuộc thi mang tên Quốc âm thí cuộc, do báo Nông cổ mín đàm tổ chức vào tháng 10 năm 1906 dưới sự chủ trì của chủ bút Gilbert Trần Chánh Chiếu. Cuộc thi kêu gọi sáng tác theo thể loại "Roman" của phương Tây nhằm phản ánh phong tục, nhân vật bản xứ. Tác phẩm dự thi tiêu biểu là Lương Hoa truyện của Nguyễn Khánh Nhương.

3. Luận án phân chia tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1887 – 1932 thành những thể tài chính nào? Luận án phân loại thành 4 thể tài chủ yếu: tiểu thuyết tâm lý (tiêu biểu: Truyện thầy Lazaro Phiền, Hà Hương phong nguyệt), tiểu thuyết hành động (tiêu biểu: Kim thời dị sử, Hiệp phố châu huờn), tiểu thuyết lịch sử (tiêu biểu: Giọt máu chung tình, Việt Nam Lý trung hưng), và tiểu thuyết thế sự (tiêu biểu: Ai làm được, Cay đắng mùi đời, Tỉnh mộng).

4. Luận án đã bổ sung bao nhiêu tác phẩm vào thư mục tiểu thuyết Nam Bộ thời kỳ này? Luận án đã phát hiện và bổ sung thêm 33 tên tác phẩm mới vào danh mục, nâng tổng số tác phẩm tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1887 – 1932 trong thư mục khảo cứu lên con số 586 tác phẩm (trong phần dẫn nhập ghi nhận tới 590 tác phẩm).

Kết luận

Luận án Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Võ Văn Nhơn là công trình nghiên cứu văn học sử chuyên sâu, phục dựng một cách có hệ thống sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết chữ quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn 1887 – 1932. Công trình đã làm rõ các tiền đề kinh tế, chính trị, báo chí và ngôn ngữ, đồng thời phân tích sâu sắc các đặc điểm về lực lượng sáng tác, quan niệm nghệ thuật, nội dung phản ánh và thi pháp thể loại. Với việc đề xuất khung phân loại 4 thể tài chính và bổ sung 33 tác phẩm vào thư mục văn học sử, luận án đã cung cấp cơ sở tư liệu chuẩn xác, góp phần nhận thức đầy đủ về giai đoạn khởi đầu của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam.